Showing posts with label kiến thức mang thai. Show all posts
Showing posts with label kiến thức mang thai. Show all posts

Friday, August 5, 2011

Nhiễm thủy đậu trong thai kỳ

Thủy đậu được coi là bệnh lành tính nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách ở cả đối tượng nhiễm bệnh là trẻ em và người lớn. Tuy nhiên, nó vẫn có thể trở thành một mối lo lớn đối với các bà mẹ trong thời kỳ mang thai vì nó có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.

Dù là bệnh lành tính nhưng khi thai phụ bị nhiễm thủy đậu có thể bị những biến chứng nguy  

Bệnh thủy đậu xuất hiện một lần trong đời người và đối tượng bị thủy đậu đa phần là trẻ em, chính vì thế cho nên khi người phụ nữ đến tuổi lập gia đình và mang thai thì khả năng nhiễm thủy đậu là không cao. Hơn nữa, nhiều người đã tiêm phòng bệnh thủy đậu hoặc khi có ý định sinh con, người phụ nữ đã kiểm tra sức khỏe và tiêm phòng nhiều bệnh trong đó có thủy đậu. Vì lẽ đó mà đối tượng phụ nữ có thai có thể miễn dịch với bệnh thủy đậu.
Nhưng cũng có một số trường hợp người mẹ chưa bị bệnh khi còn bé và tiếp xúc trực tiếp với người đang bị thủy đậu, thì khả năng nhiễm bệnh sẽ rất cao. Phụ nữ mang thai nhiễm thủy đậu còn có nguy cơ cao bị viêm phổi do vi rút Varicella gây nên. Khi đã bị viêm phổi, nguy cơ tử vong của thai phụ lên đến 40%, đây cũng là đối tượng có thể tử vong vì bệnh thủy đậu cao nhất.
Nếu người phụ nữ bị bệnh thủy đậu trong khi đang có thai, những nguy cơ có biến chứng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người mẹ và thai nhi là rất cao trong khoảng thời gian 3 tháng đầu và khoảng 1 tháng trước khi sinh. Ở 3 tháng đầu của thai kỳ, nếu người mẹ bị nhiễm thủy đậu thì vi rút có thể sẽ gây sẩy thai. Còn nhiều biến chứng nguy hiểm khác đối với thai nhi, trong đó có hội chứng thủy đậu bẩm sinh.
Để tìm hiểu xem cơ thể bạn đã có kháng thể chống lại vi rút thủy đậu hay chưa có thể xét nghiệm máu. Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy trong máu của bạn có kháng thể chống lại vi rút thủy đậu thì điều đó chứng tỏ bạn đã từng bị thủy đậu lúc bé hoặc đã được tiêm phòng bệnh này.
Hội chứng thủy đậu bẩm sinh
Đối với những thai phụ bệnh thủy đậu nguyên phát (mắc bệnh lần đầu tiên) khi mang thai, tùy vào tuổi của thai nhi mà bệnh sẽ có độ ảnh hưởng nhiều hay ít. Trong 3 tháng đầu, quan trọng nhất là vào tuần lễ thứ 8 - 12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0,4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần.
Vào tuần thứ 13 – 20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%. Sau tuần lễ thứ 20 thai kỳ, bệnh hầu như không ảnh hưởng trên thai. Nếu trong vòng 5 ngày trước sinh và 2 ngày sau sinh người mẹ nhiễm bệnh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lây từ mẹ do lúc đó người mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỉ lệ tử vong bé sơ sinh lúc này khá cao, lên đến 25% - 30% số trường hợp bị nhiễm.
Cách điều trị
Thai phụ cần được chăm sóc chu đáo, nghỉ ngơi, uống nước nhiều, ăn thức ăn lỏng để dễ tiêu hóa
Cách tốt nhất để tránh bệnh thủy đậu với bà mẹ mang thai là nên kiểm tra sức khỏe thật kỹ trước khi có thai, tiêm phòng để đảm bảo có một khoảng thời gian mang thai khỏe mạnh. Trong trường hợp phát hiện mình có thể bị nhiễm bệnh thủy đậu, quan trọng là cần cung cấp cho cơ thể thuốc kháng vi rút Varicella – zoster Ig (một loại kháng thể giống với kháng thể do cơ thể tạo ra) để bảo vệ mẹ và thai nhi. Điều này có thể giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của bệnh và quan trọng hơn là không được cung cấp kháng thể này chậm hơn 10 ngày sau khi thai phụ tiếp xúc với nguồn bệnh.
Đối với việc chăm sóc khi thai phụ bị thủy đậu thì cần để người bệnh đượng nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm. Nếu có những dấu hiệu nặng hơn, cần đến gặp bác sĩ để được thăm khám và có những bước điều trị kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm hơn có thể có.
Cách dự phòng là nên chủng ngừa bệnh thủy đậu khi còn bé hoặc ít nhất 3 tháng trước khi mang thai. Khi mang thai nên tránh tiếp xúc với người bệnh thủy đậu. Giữ vệ sinh môi trường và vệ sinh thân thể tốt.

Webtretho (tổng hợp)

Friday, July 15, 2011

3 tháng đầu của thai kỳ: Không nên chụp ảnh qua siêu âm (2 bài)

Các bậc cha mẹ đang vô cùng lo lắng khi các chuyên gia y tế đầu ngành khẳng định việc chụp ảnh hoặc quay phim các baby đang ở trong bụng mẹ qua máy siêu âm chưa đảm bảo được độ an toàn.
Những lợi ích của công nghệ khoa học thực sự làm cho các bậc cha mẹ ngạc nhiên khi có thể nhìn thấy baby trong bụng và có thể lưu giữ những hình ảnh ngay từ ngày đầu tượng hình này qua đĩa CD hay DVD . Tuy nhiên, BS Kevin Martin, Giám đốc TT Siêu âm BMUS khẳng định siêu âm được dùng cho các mục đích y học chứ không phải là “món quà” tặng cho các bậc cha mẹ.
Các chuyên gia cho biết mặc dù không có bằng chứng nào cho thấy siêu âm gây hại cho sự phát triển của thainhi cũng như nó đang rất phát triển, giúp các bác sĩ chuẩn đoán chính xác nhiều loại bệnh nhưng cũng nên thận trọng. Việc siêu âm cần được thực hiện bởi những chuyên gia giàu kinh nghiệm và có khả năng phát hiện những bất thường ở thai nhi.
Tại Mỹ, FDA phản đối việc siêu âm không vì mục đích y tế. BS Martin cho biết BMUS đang xây dựng một hướng dẫn nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng các thiết bị siêu âm và siêu âm trong 12 tuần đầu thai kỳ, khi thai nhi có nguy cơ bị khiếm khuyết cao nhất.
BS Martin khẳng định trong 3 tháng đầu tiên thai kỳ không nên chụp ảnh hay quay video bào thai vì mục đích giữ làm kỷ niệm. “Nếu chúng ta tạm hoãn sự háo hức của mình lại, tức là sau 3 tháng thai kỳ đầu tiên, thì sẽ giảm thiểu được nguy cơ khiếm khuyết ở trẻ”, BS Martin nhấn mạnh.
(theo Dân Trí)

Siêu âm thai nhi – lợi, hại?

Siêu âm thai nhi đặc biệt quan trọng đối với những thai phụ lớn tuổi, từng sinh con dị tật, sảy thai nhiều lần, uống nhiều thuốc khi mang thai…
Mục đích chính của siêu âm là đánh giá tình trạng chung, phát hiện bệnh hoặc dị tật bẩm sinh của thai nhi để có hướng xử lý kịp thời.
Chín tháng đợi chờ, đứa con trong bụng liệu có khỏe mạnh hay không? Người mẹ muốn giải đáp mọi nghi ngờ sẽ phải đi kiểm tra bằng siêu âm. Nhưng liệu siêu âm có hại cho sức khỏe của cả mẹ và thai nhi?
Siêu âm thai nhi cho biết điều gì?
Trong 3 tháng đầu mang thai được kiểm tra bằng siêu âm giúp chẩn đoán tình trạng thai đôi, tuổi của thai nhi một cách chính xác, đồng thời giúp phát hiện những bất thường của thai nhi.
Thai nhi giai đoạn 5 – 6 tháng tuổi, khi tiến hành kiểm tra bằng siêu âm sẽ phát hiện được những bất thường về cấu tạo các bộ phận cơ thể quan trọng của thai như hộp sọ, não, xương, chân tay, ngực, phổi, tim, da bụng, gan, thận, ruột, bàng quang…
Trong một số trường hợp, việc xác định giới tính thai nhi có thể giúp phát hiện những trẻ có khả năng mắc bệnh di truyền, chẳng hạn bệnh ưa chảy máu (haemophilia). Bệnh chỉ được truyền từ mẹ sang con trai, thai nhi mang bệnh thường phát triển không bình thường, khi ra đời có thể bị dị tật, khó nuôi. Vì vậy, siêu âm phát hiện các dị tật giúp cha mẹ có những quyết định hợp lý hơn.
Tác dụng của siêu âm hiện đại
Siêu âm thông thường theo hai chiều rộng và dài cho hình ảnh mặt cắt của thai nhi. Những máy siêu âm hiện đại cho phép tiến hành kiểm tra theo 3 chiều, cho hình ảnh có độ nét sâu hơn, giống với hình ảnh thực của thai nhi. Siêu âm 4 chiều tạo ra hình ảnh sinh động, trung thực của thai nhi, cho phép thấy được thai nhi chuyển động trong bụng mẹ, các cử động của thai nhi quay mặt, nhấc tay, nắm tay, há mồm, nuốt…
Siêu âm hiện đại theo 3, 4 chiều giúp tập hợp được nhiều thông tin phong phú và chi tiết, chính xác hơn về tình trạng của thai nhi, đặc biệt là sự bất thường trên bề mặt cơ thể thai nhi.
Siêu âm có nguy hiểm đối với thai nhi?
Các công trình nghiên cứu của chuyên gia Mỹ, Anh về siêu âm khẳng định việc kiểm tra bằng siêu âm không hề gây ra khuyết tật hay làm chậm sự phát triển của thai nhi và không để lại di chứng ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể, tinh thần hay bộ não của trẻ em sau này.
Tuy nhiên, về mặt y học việc chẩn đoán sự bất thường của các bộ phận cơ thể thai nhi chủ yếu vẫn phải dựa vào siêu âm 2 chiều, vì siêu âm 3 hay 4 chiều tuy có thể nhìn thai nhi rõ hơn nhưng không chẩn đoán được sự khác thường như hình ảnh mặt cắt của siêu âm 2 chiều./.

Theo Sức khỏe & Đời sống
Nguon: http://vovnews.vn/Home/Sieu-am-thai-nhi–loi-hai/20093/107256.vov , 13/3/2009

Chăm sóc sản phụ ngày rét

GiadinhNet – Các tỉnh phía Bắc đang hứng chịu đợt lạnh khắc nghiệt kéo dài.
Người già, trẻ em, sản phụ là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Vậy chăm sóc phụ nữ mới sinh trong đông giá rét ra sao để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và em bé?
1. Sai lầm trong cách giữ ấm ngày giá rét
Sinh con vào đúng mùa giá rét, ai cũng bảo chị Hoa (Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy, Hà Nội) may mắn vì có rất nhiều thứ để sưởi ấm. Ngày mẹ chồng ở quê lên thăm, bà còn mang theo một bao tải than hoa phục vụ “bà đẻ”. Theo bà, sưởi ấm bằng than hoa sẽ giúp sản phụ và em bé khỏe mạnh, da săn chắc, trắng trẻo, người mẹ tránh được các bệnh “sản hậu”(?!). Chị Hoa không đồng tình với quan điểm này, nhưng sợ mẹ chồng cho là “trứng khôn hơn vịt” nên vẫn phải ngậm ngùi làm theo…
Câu chuyện của chị Hoa là một trong vô số “kinh nghiệm” dân gian mà nhiều chị em sau sinh gặp phải. Giải thích cho những quan niệm này, bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung (Trung tâm y tế lao động – Hà Nội) cho hay: Ở các vùng có thời tiết lạnh như miền Trung, miền Bắc, phụ nữ ngày xưa thường có thói quen dùng than để sưởi ấm sau khi sinh. Tại một số địa phương còn có quan niệm: Cho thêm nghệ tươi hoặc bồ kết vào nồi than để “cản gió, cản hơi lạ”. Sản phụ mới sinh thường có thân nhiệt thấp, cần được sưởi ấm để khí huyết lưu thông dễ dàng.
Thêm nữa, khi phụ nữ sinh con bị mất máu nên phải cho nằm than để lấy lại sinh lực. Trên thực tế, theo y học hiện đại, dù là lò than (mặc dù là than hoa) hay lò sưởi đều gây sự cháy và mất ôxy. Phòng càng kín, đông người thì càng nguy hiểm bởi khí than có thể gây ngộ độc cho hai mẹ con sản phụ. Đặc biệt nếu là than tổ ong, ngoài việc đốt nhiều oxi, còn tỏa ra nhiều chất độc. Đó sẽ là môi trường thuận lợi cho các virus lây truyền qua đường hô hấp.
“Hơn thế, khi dùng than củi khó điều chỉnh nhiệt độ theo ý muốn nên rất dễ gây bỏng cho cả bà mẹ và em bé. Hệ miễn dịch của trẻ chưa cao, khi hít phải khí CO2 có thể dẫn đến ngộ độc. Thêm nữa, trong bếp than có thể tỏa ra khí CO, chiếm ôxy trong hồng cầu khiến trẻ còi cọc, có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thần kinh, thậm chí là tử vong”- BS. Dung cho biết thêm.
Khi mang thai, các cơ quan như tim, mạch máu, phổi, cơ… của người phụ nữ phải hoạt động tối đa để nuôi thai nhi. Sau sinh, trạng thái cơ thể bị thay đổi đột ngột, sản phụ bị mất một lượng máu khá lớn nên cơ thể sẽ yếu và lạnh hơn lúc bình thường.
Một thói quen rất dễ gặp của người Việt nói chung và sản phụ nói riêng là việc mặc quá ấm (thậm chí nóng) trong nhà mà lại không ý thức việc chênh lệch nhiệt độ ở trong với ngoài trời. Nguyên tắc làm ấm là phải toàn diện, trong khi đó nhiều người chỉ mặc áo ấm to sụ trong khi mặc quần mỏng. Hay có người mặc đủ quần áo ấm nhưng lại không mang tất, đặc biệt ở nông thôn không có thói quen đi giầy hay ủng. “Đầu có thể để thoáng nhưng chân tuyệt nhiên không” – BS Dung nhấn mạnh.
Mùa giá rét, nhiều sản phụ sợ lạnh, sợ nước nên không tắm rửa, thay đồ, do đó không giữ được vệ sinh cơ thể. Tất nhiên mùa rét vi trùng phát triển không nhanh bằng các mùa khác, với sản phụ sau sinh, không nhất thiết phải tắm hàng ngày nhưng cũng phải lau rửa bằng nước ấm.
2. “Bà đẻ” đối phó với giá rét
Sai lầm của một số bà mẹ nuôi con nhỏ trong mùa giá rét là quấn quá chặt tã, bỉm cho con. Nhiều người cho rằng quấn chặt chừng nào thì con đỡ lạnh chừng đó, hoặc để khi con tiểu, nước tiểu không tràn ra ngoài. Thậm chí có người còn không dám thay tã, bỉm cho con sợ con lạnh. Khi thắt chặt nhiều vòng tã quá, hoặc quấn chặt bỉm, mạch của trẻ sẽ dễ bị nghẽn, tím lại. Khi gặp trường hợp như thế, cha mẹ cần nhanh chóng nới lỏng tã, bỉm, xoa bóp và làm ấm cho trẻ ngay.
Ở các vùng quê, nhiều người có thói quen hơ tay lên bếp than để giúp tay chân trở nên ấm hơn. Sự dễ chịu này chỉ mang tính tạm thời khi còn ngồi cạnh bên quạt sưởi, bếp lửa… sau đó thì đâu lại vào đấy. Thậm chí có thể khiến da tay, da chân khô nẻ, tê cứng, kém linh hoạt… do hiện tượng tụ máu. Thay vì hơ tay, có thể xoa xoa hai tay vào nhau cũng cho tác dụng dễ chịu tương tự.
Các chuyên gia y khoa khuyến cáo: Làm ấm cho cơ thể là đúng, tuy nhiên nếu không đúng cách sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Trước hết, phải nói: “Không” với quan niệm “nằm than” trong phòng kín. Có thể sử dụng thiết bị làm ấm như lò sưởi bằng điện hoặc bằng dầu. Nhưng đi kèm đó, hàng ngày có một lúc nào đó phải mở cửa cho không khí mới vào. Nếu người đông hơn, số lần mở cửa phải nhiều hơn. Lúc mở cửa tốt nhất là khi trẻ đã ngủ ngon, đắp chăn hở đầu, tránh gió lùa trực diện vào hai mẹ con.
Theo Th.S Đỗ Thanh Hà – Trưởng khoa Phụ – BV YHCT Trung ương: Trong quan niệm của Đông y, “nguồn lạnh” trong cơ thể xuất phát từ tuyến thận (nằm ở vùng thắt lưng), gọi là hiện tượng dương hư gây lạnh. Để đối phó với điều này, sản phụ cần bổ sung các thuốc bổ thận dương.
“Ở bệnh viện có thể dùng túi ngải hơ vào các huyệt ở lưng và bụng; ở các gia đình có thể thay bằng một chai nước hoặc một túi chườm ấm đặt dưới lưng người phụ nữ khoảng 5-7 phút là đã đủ để giữ ấm. Còn việc có săn chắc cơ bụng hay đùi cho sản phụ hay không thì không chắc chắn” – Th.S Hà cho hay.
Nhiều người cho rằng, mùa giá rét không cần uống nước bổ sung vì cơ thể không tiêu hao năng lượng mấy- điều này không đúng. Nguyên tắc chung về mùa đông không được ăn đồ nguội, lúc nào cũng uống nước ấm, nếu uống nước nguội sẽ bị mất nhiệt, thiếu nước. Hơi thở khô thì càng dễ viêm hô hấp. “Ngoài ra, một suy nghĩ sai lầm là ăn hoa quả mùa đông dễ lạnh bụng.
Tất nhiên nhu cầu trong không khí lạnh, sự “thèm” hoa quả sẽ không “mạnh mẽ” như các mùa khác, chúng tôi chỉ khuyến cáo nên hạn chế ăn các loại quả chua, lạnh” – BS CK II Nguyễn Thị Tú Anh – Trưởng khoa Y học cổ truyền – BV Trung ương Huế chia sẻ.
“Đông y quan niệm những hoa quả, thức ăn dưới đất có tính hàn cao hơn nhiệt (lươn, trạch, dưa hấu…). Đối với sản phụ, sau sinh cơ thể bị lạnh hơn, do đó, cần ăn những hoa quả có tính nhiệt cao. Ngoài việc bổ sung lượng vitamin, nước, ăn hoa quả còn hạn chế được táo bón” – BS Tú Anh chia sẻ.
Lúc ngủ, nguyên tắc là không trùm chăn kín mít bởi mặt là nơi chịu nhiệt tốt nhất cơ thể. Trong nhà không được mặc áo quá ấm để khi ra ngoài thân nhiệt không bị thay đổi đột ngột. Khi đã vào chăn thì không được mặc dày, quần áo bó sát, tốt nhất là mặc áo mềm, rộng, thoáng bằng sợi tổng hợp hoặc len mỏng, thậm chí chất pha ít nilong cũng có thể mặc được vì mùa này ít ra mồ hôi.
Các chuyên gia cũng khuyến khích sản phụ sau sinh vận động sớm để khí huyết lưu thông tốt, các cơ sớm phục hồi, tránh nhão cơ và nhăn da. Một số bệnh viện, gia đình còn dùng đèn hồng ngoại chiếu vào vùng “cửa mình” để các vết thương co lại và mau lành hơn. Đây là thiết bị y tế nên gia đình có thể mua tại các cửa hàng. Tuy nhiên không để gần tránh gây bỏng.

Võ Thu

Có nên dùng thuốc bổ khi mang bầu

Khi có thai, nhiều người đã tìm tới sự giúp đỡ của các loại thuốc bổ. Vậy việc dùng các loại thuốc bổ có cấn thiết? Dưới đây là ý kiến của các chuyên gia.
Khi có thai, bà mẹ nào cũng mong muốn con mình sau này sẽ khỏe mạnh, thông minh hơn người. Vì thế họ luôn luôn nghĩ đến việc phải tẩm bổ trong thời kỳ này.
Ngoài chế độ dinh dưỡng nhiều người đã tìm tới sự giúp đỡ của các loại
thuốc bổ. Vậy việc dùng các loại thuốc bổ đó như thế nào, và sự cần
thiết của chúng đến đâu? Dưới đây là ý kiến của các chuyên gia.
Theo PGS.TS. Vương Tiến Hòa – Giảng viên Bộ môn phụ sản Trường Đại học Y Hà Nội: Việc sử dụng thuốc nói chung đối với phụ nữ có thai là hết sức quan trọng, trước hết phải bảo đảm sức khỏe cho mẹ và phải an toàn cho thai nhi.
Đối với thuốc bổ, trước hết cần phải hiểu thế nào là thuốc bổ? Đây là từ dân gian thường dùng, thực ra đó là những thuốc bổ sung, hỗ trợ nâng cao sức khỏe cho người mẹ trong khi có thai làm cho mẹ khỏe hơn và một phần thuốc qua bánh rau làm cho thai phát triển tốt hơn. Các thuốc bổ hay được sử dụng ở phụ nữ có thai là viên sắt, acid folic, canxi, magiê, vitamin B6, vitamin E, polyvitamin…
Viên sắt có tác dụng tạo hồng cầu. Đối với nhu cầu bình thường, nếu người phụ nữ ăn uống không đầy đủ hoặc hàng tháng bị kinh nguyệt kéo dài mất máu nhiều cũng có thể gây thiếu máu. Khi có thai, thai nhi sử dụng các dưỡng chất của người mẹ nhiều hơn nên phải bổ sung sắt. Xu thế hiện nay người ta còn dùng cả viên sắt ngay cả sau khi sinh 1 – 2 tháng để chống thiếu máu cho bà mẹ và trẻ đang bú mẹ.
Đối với acid folic (vitamin B9) tốt nhất là sử dụng trước khi có thai 3 – 4 tháng và trong khi có thai lại càng cần hơn. Lợi ích của vitamin này là giúp cho thai nhi không bị các khuyết tật về thần kinh.
Canxi được bắt đầu sử dụng ở tuần thứ 16 trở lên (khi thai bắt đầu hình thành cấu trúc xương). Càng gần đủ tháng, thai nhi càng phát triển và sẽ lấy canxi từ trong huyết thanh của người mẹ sang để cung cấp cho thai nhi phát triển và hoàn thiện khung xương.
Nếu người mẹ ăn uống thiếu canxi lại không được cung cấp thêm canxi (bổ sung canxi) sẽ dẫn đến tình trạng loãng xương ở mẹ bởi vì người mẹ phải huy động canxi từ bộ xương của mình đưa vào máu và qua bánh rau để cung cấp cho thai nhi.
Trường hợp người mẹ đa thai thì mức độ huy động canxi sẽ nhiều hơn nên càng cần phải bổ sung canxi. Tuy nhiên phải bổ sung từ từ chứ không phải cứ lo thiếu mà đưa một lượng lớn canxi vào cơ thể trong một thời gian ngắn là được.
Có một số thuốc có thể sử dụng trong thời kỳ có thai như magie B6 (là thuốc có khoáng chất magie lẫn vitamin B6, có tác dụng ổn định trao đổi chất đồng thời góp phần giảm nguy cơ bị tiền sản giật), vitamin E tự nhiên. Các thuốc này có thể kết hợp với vitamin C liều cao 500mg sẽ làm giảm nguy cơ tiền sản giật. Ngoài ra có thể bổ sung kẽm và một số chất vi khoáng khác.
Nhưng không phải cứ uống thật nhiều thuốc bổ là tốt, vấn đề cơ bản là sử dụng thế nào cho hợp lý. Ví dụ, viên sắt nếu uống nhiều quá sẽ gây táo bón, hay bổ sung nhiều canxi quá mức yêu cầu thì canxi sẽ lắng đọng ở thận gây sỏi thận hoặc lắng đọng ở bánh rau làm giảm chức năng của bánh rau sẽ làm giảm trao đổi chất dinh dưỡng giữa mẹ và con làm cho thai kém phát triển và sẽ nhẹ cân khi sinh. Vì vậy trước khi dùng bất cứ loại thuốc bổ nào, tốt nhất bà bầu nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Theo afamily.vn

Mổ đẻ dễ gây vấn đề nhau thai?

Một nghiên cứu cho biết phụ nữ đẻ mổ trong lần sinh con đầu tiên dễ gặp các rắc rối về nhau thai trong lần mang thai tiếp theo.
Thống kê từ 5 triệu phụ nữ mang thai cho thấy nguy cơ nhau thai bị sa xuống phía dưới tử cung hoặc bị sưng tấy tăng lên gần 50%.
Cả hai triệu chứng trên đều gây chảy máu trong thời gian mang thai, nghiên cứu cho biết.
Các chuyên gia nói rằng phụ nữ nên được thông báo về nguy cơ này nếu họ muốn đẻ mổ.
Tạp chí quốc tế về sản phụ khoa BJOG cho biết các nhà nghiên cứu đã phân tích số liệu từ Trung tâm thống kê Y tế quốc gia Hoa Kỳ trong thời gian từ 1995 đến 2000.
Các phụ nữ mổ đẻ trong lần đầu sinh con sẽ gặp nguy cơ nhau thai phủ lên hoặc sa gần cổ tử cung trong lần mang thai thứ hai, nguy cơ này cao hơn 47% so với các phụ nữ sinh thường.
Nguy cơ thứ hai là nhau thai bị tách ra khỏi tử cung quá sớm và nguy cơ này cao hơn 40% ở những phụ nữ đẻ mổ.
Các nhà nghiên cứu cho biết vết sẹo trong tử cung do mổ đẻ có thể tác động tới vị trí nhau thai ở những lần mang thai kế tiếp.
Tình trạng nguy hiểm
Hai triệu chứng trên đều rất nguy hiểm đối với cả sản phụ và thai nhi.
Người đứng đầu công trình nghiên cứu, Tiến sĩ Qiuying Yang của trường đại học Ottawa nói đây là nghiên cứu lớn nhất cho thấy mối liên hệ quan trọng giữa đẻ mổ và những rắc rối trong lần mang thai tiếp theo.
“Nghiên cứu cho ta những hiểu biết quan trọng trong việc sử lý những ca mang thai. Nó cũng cung cấp những bằng chứng mới cho cuộc tranh luận về rủi ro của việc ‘đẻ mổ theo yêu cầu’.
Giáo sư Andrew Shennan, chuyên gia tư vấn sản khoa của bệnh viện St.Thomas tại London nói những vấn đề gây chảy máu trong thai kỳ là chuyện xảy ra thường ngày đổi với bác sĩ khoa sản.
“Tuy chúng ta đã biết về những mối liên quan tới các triệu chứng trên, nhưng điều gây ấn tượng về nghiên cứu này chính là qui mô của nó, và các nhà nghiên cứu đã có những phân tích rất tốt”.
Nếu thai phụ có nhau thai gần trên vết sẹo thì sẽ rất nguy hiểm và nó là một trong những tình trạng đáng lo ngại nhất”
Giáo sư Shennan cũng khuyến cáo nên tư vấn đầy đủ về mổ đẻ cho các thai phụ.
Tổng biên tập tạp chí BJOG, giáo sư Phillip Steer nói thêm: “Anh mà một trong các nước có tỉ lệ đẻ mổ cao nhất thế giới”.
“Thai phụ cần được thông báo về những rủi ro có thể xảy ra trong suốt thai kỳ và họ cần được siêu âm định kỳ để theo dõi sự phát triển của thai nhi”.
“Nếu thai phụ bị chảy máu bất thường khi mang thai, họ cần tới gặp bác sĩ ngay”.

Theo BBC

Điều trị đau dạ dày cho phụ nữ mang thai

Ở người mới có thai bị đau dạ dày, tần suất đau nhiều hơn do nôn mửa (dạ dày phải co bóp mạnh, ngược chiều để đẩy thức ăn ra). Khi hết nghén, nhu động cơ dạ dày và ruột do thai nghén giảm, đồng thời vị trí dạ dày bị thay đổi do tử cung to lên chèn ép khiến thức ăn chậm tiêu, dễ ứ đọng dịch vị, làm nặng thêm thương tổn trong niêm mạc dạ dày.
Nếu cơn đau dạ dày nhiều, nặng thì cần được điều trị bằng các thuốc thích hợp do các thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa lựa chọn. Ngày nay, người ta đã biết rõ tác nhân gây đau dạ dày là một loại vi khuẩn (helicobacter pylori) gây ra. Vì thế trong điều trị nhất thiết cần có kháng sinh diệt khuẩn, thuộc nhóm Tetracylin, có khi còn phối hợp với cả nhóm Metronidazol. Đây là những thuốc được khuyến cáo không nên dùng cho người có thai. Ngoài ra, một số thuốc khác để chữa bệnh dạ dày cũng được khuyên không nên dùng hoặc nếu dùng phải thận trọng với người mang thai, như thuốc chứa Lansopazol, Cimetidin, Famotidin hoặc Bismuth salicylat…
Người có thai khi muốn dùng thuốc để chữa chứng đau dạ dày, thì nhất thiết phải có chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa. Bệnh nhân cần thông báo tình trạng thai nghén để bác sĩ lựa chọn thuốc thích hợp nhất với hoàn cảnh của mình. Ngoài ra, để chẩn đoán và theo dõi tiến triển của bệnh, thầy thuốc có thể chỉ định soi hoặc chụp X quang dạ dày. Những việc này chỉ nên tiến hành khi thật sự cần thiết, còn nếu có thể trì hoãn được đến sau sinh thì nên chờ đợi.

Bác sĩ Phó Đức Nhuận, Khoa học và Đời sống

Lưu ý khi bà bầu khám thai

Yếu tố quan trọng giúp thai kỳ khỏe mạnh là tuân thủ lịch khám thai theo định kỳ. Xuyên suốt những lần khám thai, bác sĩ sẽ theo dõi sự tăng trưởng của bé và sức khỏe của mẹ để xử lý bất kỳ vấn đề nào ngay khi chúng phát sinh.
1. Lần khám thai đầu tiên
Buổi khám thai đầu tiên thường được tiến hành ngay lúc bạn đang nghi ngờ mình có thai. Bạn được bác sĩ kiểm tra về lịch sử kinh nguyệt, đã từng mang thai chưa, các bệnh rối loạn di truyền có tiền sử gia đình…?
Bạn cũng cần nói về những thói quen có thể gây nguy hiểm cho bé như hút thuốc, uống rượu hoặc sử dụng chất kích thích.
Ngoài ra, bác sĩ cũng kiểm tra sức khỏe cho bạn, làm một số xét nghiệm, dự tính tuổi thai và gợi ý biểu đồ tăng cân. Bạn có thể nhận được lời khuyên về việc sử dụng vitamin, cùng với dinh dưỡng và luyện tập hợp lý.
2. Các buổi khám thai tiếp theo
Tần suất khám thai phụ thuộc vào từng cá nhân người mẹ. Một thai kỳ kéo dài khoảng 40 tuần và chia làm 3 quý. Bạn có thể khám thai một lần mỗi tháng trong quý I và quý II. Đến tuần thứ 28, số lần khám thai tăng lên 2 tuần/lần; và từ tuần thứ 36, bạn nên khám thai hàng tuần.
Những thai phụ có nguy cơ sức khỏe thì cần khám thai thường xuyên hơn, như trên 35 tuổi, mang song thai, có nguy cơ khuyết tật bẩm sinh, bệnh tiểu đường…
Tại mỗi lần khám, bác sĩ có thể làm xét nghiệm nước tiểu cho bạn để đảm bảo lượng đường và protein trong nước tiểu ở mức độ thích hợp. Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ được đánh giá về cân nặng, kiểm tra huyết áp, mức độ phù, kích thước tử cung, nhịp tim của bé…
Theo M&B

10 đồ ăn bà bầu nên cân nhắc

Danh sách những thứ nên và không nên ăn trong thai kỳ có thể làm bạn bối rối. Trước khi tiến tới tủ lạnh hoặc quyết định chọn món trong thực đơn, thai phụ nên cân nhắc một số đồ ăn sau.
1. Thực phẩm nhanh bị hỏng
Nếu bạn tham dự một bữa tiệc ngoài trời thì đồ ăn có thể nhanh chóng bị hỏng do không được bảo quản lạnh.
Bạn cũng nên thận trọng khi ăn những món có nước xốt, như salad khoai tây hoặc salad mỳ ống…
2. Trà thảo dược
Tác dụng của trà thảo dược với sự tăng trưởng của bào thai chưa được xác nhận; do đó, chỉ nên dùng trà thảo dược khi bạn không có thai. Đồ uống không có caffein là tốt nhất dù là uống nóng hay uống lạnh.
3. Thịt chưa nấu chín
Hãy ghi nhớ cụm từ: “Thịt phải được nấu chín kỹ”. Dù đó chỉ là một miếng thịt bò nướng tại nhà hay bữa tiệc ngon lành tại một nhà hàng thì cũng để thịt chín kỹ trước khi ăn.
4. Gỏi cá
Bạn có thể phát thèm khi nhìn thấy gỏi cá hay món sushi nhưng món ăn này có thể gây hại cho bào thai bởi khả năng nhiễm vi khuẩn cao. Cá hun khói cũng nguy hiểm như thế. Vì thế, tất cả thực phẩm phải được nấu chín dù là phương pháp nào.
5. Cá chứa thủy ngân
Cá giàu axit béo omega 3 rất quan trọng với sự phát triển bộ não thai nhi; vì thế, tiêu thụ khoảng 300g loại cá này mỗi tuần được coi là an toàn. Tránh các loại cá nhiều thủy ngân như cá kiếm, Walleye, cá thu Tây Ban Nha, cá mập. Cá ngừ đóng hộp có thể được tiêu thụ khoảng 300g mỗi tuần.
6. Trứng sống
Nếu salad trộn trứng là món yêu thích của bạn, hãy kiểm tra thành phần của nó. Một số món salad trộn trứng được làm với trứng sống – thành phần cực kỳ có hại cho thai nhi vì chứa khuẩn salmonella. Xốt mayonnaise và mỳ trứng tự làm cũng cần phải tránh, ngoại trừ nó được nấu chín.
7. Thực phẩm và đồ uống kém chất lượng
Hãy tránh xa thực phẩm và nước quả đóng hộp không đảm bảo an toàn. Sản phẩm của các công ty uy tín mới có khả năng tiêu diệt hết vi khuẩn mà không làm thay đổi thành phần của đồ ăn.
8. Phomat mềm (soft cheeses)
Phomat mềm làm bằng sữa chưa được tiệt trùng có thể chứa vi khuẩn listeria nên phải tránh khi có bầu. Phomat rơi vào loại này gồm phomat bleu, camembert, feta, brie, và pho mát Mexico.
9. Thịt deli (deli meat) và phomat
Sản phẩm có thể mang trong mình cả kho vi khuẩn listeria là thịt deli và phomat. Vì thế, cần yêu cầu thịt deli và phomat được đun nóng để tiêu diệt hết vi khuẩn không mong muốn.
10. Chất ngọt nhân tạo
Đường Saccharin và đường hóa học được coi là không an toàn cho phụ nữ mang thai.Tuy nhiên, đường sucralose và aspartame lại được xem xét là an toàn.

Theo M&B

Phụ nữ thấp bé có khó đẻ?

TP – Nhiều người vẫn nói, phụ nữ mang thai có thân hình nhỏ bé sẽ khó đẻ song kỳ thực, việc sinh con đẻ cái dễ hay khó phụ thuộc vào ba yếu tố: hình thái xương chậu lớn hay nhỏ, thai nhi lớn hay nhỏ và khả năng sinh đẻ mạnh hay yếu.
Trong đó bất kỳ yếu tố nào hay từ một yếu tố trở lên có hiện tượng khác thường, đều ảnh hưởng tới tiến trình sinh đẻ, thậm chí gây nên khó đẻ.
Thân hình người phụ nữ cao hay thấp chủ yếu quyết định bởi xương đùi và xương ống chân, bắp chân dài hay ngắn.
Tuy xương chậu về giải phẫu học cũng quy nạp vào phạm trù xương chi dưới, nhưng về hình thái và độ lớn hay nhỏ của xương chậu chưa chắc đã tỉ lệ với độ dài của xương đùi và xương cẳng chân.
Xương chậu là một bộ phận thuộc đường sinh sản, nó đóng vai trò quan trọng đối với sự ra đời của thai nhi có thuận lợi hay không. Xương chậu lớn hay nhỏ, kết cấu, hình dạng khác thường hoặc kính tuyến khác thường, đều sẽ gây nên khó đẻ.
Phụ nữ có thân hình thấp bé, hình thái xương chậu bình thường, nhưng cửa vào xương chậu, xương chậu giữa và cửa ra đều nhỏ hơn người bình thường, thì khi đẻ có thể khó hơn.
Đường kính trong của xương chậu lớn hay nhỏ ở từng người khác nhau. Hình thái xương chậu bình thường mà đường kính trong nhỏ, thì vẫn có khả năng khó đẻ.
Hình thái xương chậu chỉ hơi khác thường, nhưng chỉ cần đường kính trong bình thường khi đẻ chưa chắc đã khó. Bởi vậy, đường kình trong của xương chậu còn quan trọng hơn hình thái xương chậu.
Nhưng thân hình thấp bé chưa chắc đường kính trong xương chậu đã nhỏ. Rất nhiều chị em phụ nữ chỉ cao 1m50, nhưng xương chậu hình thùng, rộng mà nông, chất xương mỏng, đường kính trong lớn, khi sinh đẻ, thai nhi rất dễ lọt qua.
Ngoài ra, cho dù hình thái hay cỡ xương chậu đều bình thường, nhưng thai nhi quá lớn, nặng tới 4kg, thai nhi và xương chậu không cân xứng với nhau, khi sinh đẻ cũng sẽ rất khó.
Hình thái xương chậu có bình thường hay không, bác sĩ có thể đo kiểm tra bên ngoài xương chậu cũng có thể đánh giá sơ bộ được. Còn kiểm tra siêu âm B có thể biết được thai nhi lớn hay bé, khi sắp sinh, bác sĩ có thể phán đoán đẻ khó hay dễ, để có biện pháp thích hợp.
Bởi vậy, các bạn có thân hình thấp bé cũng bất tất phải lo lắng khi sinh con khó hay dễ. Hay nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ, tích cực giữ gind sức khỏe khi mang thai, bồi dưỡng hợp lý, vận động vừa phải, và định kỳ khám thai, đó chính là tạo điều kiện để sinh đẻ được thuận lợi.

Huyết khối tĩnh mạch gây nguy hiểm cho thai kỳ

Tình trạng máu đông cục gây tắc tĩnh mạch có thể xảy ra ở những thai phụ ít vận động, bị suy tim ứ huyết hay chấn thương. Một số người làm thụ tinh trong ống nghiệm cũng gặp chứng này sau chuyển phôi thành công.
Huyết khối tĩnh mạch là tình trạng tắc nghẽn một tĩnh mạch do cục máu đông được vận chuyển trong dòng máu từ một nơi khác đến. Huyết khối tĩnh mạch sâu xảy ra khi cục máu đông được hình thành và làm tắc tĩnh mạch chi dưới hay tĩnh mạch chậu. Khi cục máu đông bị bóc tách ra khỏi thành mạch, nó có thể dẫn đến thuyên tắc phổi, gây tử vong.
Nguyên nhân khởi phát tình trạng huyết khối tĩnh mạch chưa được hiểu rõ. Nhưng nguy cơ này thường tăng lên trong thai kỳ. Lúc này, thai phụ có những thay đổi như tăng nồng độ yếu tố đông máu và chất hoạt hóa quá trình đông máu (nhằm thúc đẩy quá trình đông máu, ngăn ngừa hiện tượng chảy máu trong khi sinh); giãn nở tĩnh mạch, hệ thống tĩnh mạch trì trệ do sự chèn ép của tử cung. Những yếu tố này làm cho nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng gấp 3 lần trong thai kỳ. Vào nó dễ dẫn đến tử vong.
Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến huyết khối tĩnh mạch:
Tình trạng bất động: Các cơ chân hoạt động như hệ thống bơm để đẩy máu tĩnh mạch ở chi dưới trở về tim. Sự bất động của các cơ chân đưa đến tình trạng ứ máu tĩnh mạch, gây huyết khối làm viêm tắc tĩnh mạch. Tình trạng bất động thường xảy ra trong phẫu thuật, bệnh nhân nằm nghỉ trên giường kéo dài và không thay đổi tư thế trong một thời gian dài.
Sự bất toàn hệ thống tĩnh mạch: Tĩnh mạch giãn, hệ thống van cbất toàn là yếu tố làm tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
Suy tim ứ huyết: Trong bệnh này, cung lượng tim bị giảm, dẫn đến giảm lượng máu từ tĩnh mạch chi dưới trở về tim.
Chấn thương: Chấn thương trực tiếp ở chi dưới có thể dẫn đến sự hình thành cục máu đông và gây viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
Tình trạng tăng đông máu: Bệnh lý ác tính, sử dụng oestrogen, hội chứng tăng độ nhớt của máu… có thể gây tình trạng tăng đông máu, làm tăng nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch huyết khối.
Bệnh nhân tắc tĩnh mạch do huyết khối thường đến khám vì đau và sưng một chân. Các triệu chứng thường không rõ ràng. Ép cơ cẳng chân thấy chân bị căng đau trên chỗ ép. Để chẩn đoán, cần làm siêu âm Doppler mạch máu. Kỹ thuật này là có thể cho thấy các cục máu đông trong lòng mạch và giảm dòng chảy trong tĩnh mạch. Biện pháp chụp tĩnh mạch cản quang cũng được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu. Tuy nhiên, thủ thuật này gây đau, có biến chứng.
Sau khi xác định bệnh, bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch sâu được dùng thuốc kháng đông để phòng ngừa sự hình thành cục máu đông và thuốc tan huyết để làm tan cục máu đông đã hình thành. Việc dùng thuốc phải rất thận trong theo hướng dẫn của bác sĩ. Bệnh nhân cần đánh răng thật nhẹ nhàng để tránh chảy máu, không sử dụng thuốc kháng viêm non-steroid vì các thuốc này sẽ làm giảm hoạt động của tiểu cầu và tăng nguy cơ chảy máu.
Huyết khối tĩnh mạch nông không được chỉ định điều trị với thuốc kháng đông. Bệnh nhân cần giữ chân ở tư thế cao, chườm nóng và sử dụng salicylate.
Để phòng bệnh, nên tránh nằm yên trên giường trong thời gian dài mà phải tăng vận động. Mang loại bít tất đặc biệt giúp chèn ép tĩnh mạch nông, làm cải thiện dòng chảy ở tĩnh mạch sâu, giảm nguy cơ huyết khối. Tập thể dục bàn chân, tránh ngồi bắt chéo chân trong thời gian dài vì có thể làm giảm sự dẫn truyền máu ở tĩnh mạch sâu.
Bệnh nhân có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm sẽ có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch cao hơn bình thường. Chế độ vận động hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ này. 

Theo Sức Khỏe & Đời Sống