Showing posts with label hiếm muộn. Show all posts
Showing posts with label hiếm muộn. Show all posts

Wednesday, July 13, 2011

Những nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới

Vô sinh là một trong những căn bệnh vô cùng nguy hiểm với chị em phụ nữ vì vậy chị em cần cẩn trọng và nên tìm hiểu về những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này.

Ngày nay, không phải chị em nào muốn có con là có được ngay. Tỷ lệ vô sinh ở giới nữ trong xã hội hiện đại ngày một cao với nhiều lý do khác nhau. Dưới đây là 7 nguyên nhân có thể dẫn đến vô sinh:

1. Các vấn đề về nội tiết

Vấn để về nội tiết là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến hiện tượng chu kỳ không rụng trứng. Quá trình rụng trứng phụ thuộc vào sự cân bằng của các hormone và sự tương tác. Bất cứ sự gián đoạn nào trong quá trình này đều có thể ngăn chặn sự rụng trứng.

2. Nhiễm trùng tiểu khung

Nếu bạn bị viêm tắc vòi trứng thì trứng và tinh trùng sẽ không thể gặp nhau để thụ tinh được. Đây cũng là nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến chứng vô sinh ở nữ giới.

3. Bệnh lạc nội mạc tử cung

Bệnh lạc nội mạc tử cung xảy ra khi các mô trong tử cung phát triển bên ngoài tử cung. Điều này có ảnh hưởng đến chức năng của tử cung, buồng trứng và ống dẫn trứng. Bệnh này cũng gây đau bụng lúc có kinh, trứng rụng bất thường và loa vòi không bắt được trứng. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng vô sinh ở nữ giới.

4. Mãn kinh sớm

Một nguyên nhân nữa dẫn đến chứng vô sinh ở chị em là thời kỳ đầu mãn kinh. Thông thường, độ tuổi mãn kinh của chị em là từ 55 tuổi trở lên nhưng cũng có nhiều người bắt đầu thời kỳ mãn kinh từ năm 40 tuổi. Thậm chí, có những người đi qua giai đoạn này từ năm 25 tuổi. Vì lý do đó mà họ không thể có con.

5. Thuốc

Có một số loại thuốc có thể gây vô sinh tạm thời ở nữ giới. Trong nhiều trường hợp, khả năng sinh sản được khôi phục sau khi ngừng sử dụng các loại thuốc kháng sinh. Vì vậy, tốt hơn hết là bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi uống thuốc và tìm hiểu về tác dụng phụ của mỗi loại thuốc bạn uống.

6. U xơ tử cung

Đây là những khối u lành tính làm tổ trên thành tử cung. Căn bệnh này phổ biến ở những phụ nữ tuổi 30-40. Nó có thể gây trở ngại cho quá trình cấy ghép đúng cách của trứng.

7. Caffeine

Caffeine được chứng minh là chắc chắn làm giảm khả năng sinh sản của nữ giới. Vì vậy,  cách tốt nhất là bạn nên giảm lượng caffeine sử dụng hàng ngày. Điều này không hoàn toàn dễ dàng nếu bạn là người nghiện chất caffeine nhưng bạn phải tử bỏ nếu muốn có con nhanh.
Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến vô sinh ở nữ giới nhưng còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa bạn có thể trao đổi trực tiếp với bác sĩ phụ khoa để có thêm thông tin. Nếu bạn nghi ngờ mình có thể vô sinh, đừng ngại ngần trao đổi sớm với bác sĩ vì biết bệnh và chữa trị bệnh sớm sẽ khiến tình trạng bệnh tật nhanh được khắc phục.

Chữa hiếm muộn bằng đậu nành

Một thí nghiệm mới đây của các nhà khoa học người Anh cho thấy, vi chất trong đậu nành có thể tăng khả năng thụ thai bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) lên gấp 6 lần. Ngoài ra, đậu nành cũng có khả năng chống sảy thai rất hiệu quả. 

Rất nhiều các cặp vợ chồng hiếm muộn đã cố gắng sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm nhiều lần nhưng vẫn không thành công. Tuy nhiên, một phương pháp điều trị bệnh hiếm muốn mới bằng tinh chất dầu đậu nành có thể giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn giải tỏa mối lo âu này.
Phương pháp điều trị hiếm muộn bằng tinh chất dầu đậu nành mở ra hy vọng cho nhiều cặp vợ chồng.
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm y tế về sinh sản ở Nottingham (Anh) đã tiến hành thí nghiệm với một nhóm phụ nữ đã thử phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm từ 6 - 12 lần nhưng không thành công. Nhóm nghiêm cứu đã cho một số phụ nữ trong nhóm này được cho uống viên bổ sung Intralipid - nhũ dịch của dầu đậu nành thường được sử dụng cho các bệnh nhân không thể ăn bằng đường miệng.
Chữa hiếm muộn bằng đậu nành, Bà bầu, Hiem muon, dau nanh chua hiem muon, chua hiem muon bang dau nanh, chua hiem muon, dau nanh, ba bau uong sau dau nanh, ba bau
Phương pháp điều trị hiếm muộn bằng tinh chất dầu đậu nành mở ra hy vọng cho nhiều cặp vợ chồng.
Kết quả cho thấy, ½ số phụ nữ uống viên bổ sung Intralipid thụ thai thành công, tăng gấp 6 lần so với tỷ lệ thụ thai (9%) ở những phụ nữ hiếm muộn không uống viên bổ sung Intralipid. Ngoài ra, những phụ nữ uống viên bổ sung Intralipid có nguy cơ bị sảy thai thấp hơn.
Tờ Daily Mail dẫn lời tiến sĩ George Ndukwe, giám đốc trung tâm y tế về sinh sản ở Nottingham (Anh), cho biết: “Hàng ngày, tôi được chứng kiến nhiều phụ nữ phải trải qua nhiều lần thụ tinh bằng phương pháp IVF, nhưng vẫn không thành công. Điều này khiến các cặp vợ chồng mắc bệnh khó sinh tỏ ra rất chán nản”.
Các nhà khoa học giải thích rằng, hợp chất Intralipid có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch của các phụ nữ. Bởi phần lớn những phụ nữ mắc bệnh hiếm muộn đều có hệ miễm dịch rất yếu - một trong những nguyên nhân khiến thai khó đậu và sảy thai sau khi thụ tinh thành công.
Một ưu điểm nữa của phương pháp điều trị bệnh hiếm muộn bằng Intralipid là chi phí khá rẻ. Theo nhóm nghiên cứu, kinh phí điều trị một ca hiếm muộn bằng Intralipid mất khoảng 312 USD. Trong khi đó, phương pháp điều trị bằng các loại thuộc khác hiện nay tiêu tốn gần 3.120 USD/ca.

Nguồn: Báo Khoa Học

“Siêu vi phẫu” và cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh

Từ xưa đến nay, con người đã đi từ mổ xẻ trên cơ thể, trên các bộ phận dưới mắt thường đến vi phẫu thuật trên các tổ chức có kích thước nhỏ (mắt, vòi trứng, ống dẫn tinh...) hoặc trên các mạch máu để chữa bệnh. Vi thao tác bao gồm kỹ thuật biến những thao tác của tay người với biên độ rất lớn thành thao tác với biên độ cực nhỏ, chỉ vài micromet (1/1.000 milimet).
Vi thao tác giúp con người có thể thực hiện phẫu tích trên từng tế bào đơn lẻ. Với kỹ thuật vi thao tác, các chuyển động từ tay người được truyền đến các dụng cụ phẫu tích cực nhỏ bằng thủy tinh. Hiện nay với các kỹ thuật vi thao tác, con người có thể thực hiện các phẫu thuật ngay trên từng tế bào.

ICSI

Ở người, bình thường mỗi lần xuất tinh, tinh dịch chứa trên 50 triệu tinh trùng. Trong khi đó, hiện tượng thụ tinh thật sự chỉ diễn ra giữa một trứng và một tinh trùng. Dù vậy, nếu tinh trùng trong tinh dịch giảm về số lượng và chất lượng, khả năng thụ tinh bình thường sẽ rất khó xảy ra, thậm chí không thể xảy ra. Ngay cả trong kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) cổ điển, người ta cần phải có hàng trăm ngàn tinh trùng khỏe mạnh nuôi cấy cùng với trứng để hi vọng có hiện tượng thụ tinh bên ngoài cơ thể.
Chỉ đến năm 1992, khi có kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI), vấn đề vô sinh nam mới được giải quyết triệt để. Trong kỹ thuật này, người ta hút một tinh trùng vào một kim thủy tinh cực nhỏ, đường kính 6-7 micromet (nhỏ hơn rất nhiều lần so với sợi tóc). Sau đó, tinh trùng được tiêm thẳng vào tế bào trứng để tạo ra sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng. Như vậy, chỉ với một vài tinh trùng, nam giới đã có khả năng làm cha của những đứa con khỏe mạnh. Ngay cả với một vài tinh trùng non lấy từ mô tinh hoàn cũng giúp nam giới khả năng có con của chính mình. Kỹ thuật ICSI đã được thực hiện thành công ở Việt Nam từ năm 1998.

 Chữa bệnh cho phôi

Trong quá trình phát triển, phôi người có thể có một số bất thường trong phân chia các phôi bào. Sự bất thường này thường biểu hiện bằng các mảnh vỡ của bào tương (fragment) bên trong phôi. Tương tự trường hợp trên, khi đông lạnh và rã đông các phôi TTTON, trong một số trường hợp một vài phôi bào có thể bị chết, trong khi các phôi bào khác trong phôi vẫn có thể sống và phát triển bình thường. Sự tồn tại các mảnh vỡ tế bào cũng như sản phẩm thoái hóa từ các tế bào chết ở phôi rã đông có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của các phôi bào còn lại.
Để điều trị tình trạng “bệnh lý” này của phôi, người ta có thể dùng những kim thủy tinh với đường kính cực nhỏ vài chục micromet để hút bỏ các tế bào chết khỏi phôi, giúp tăng khả năng phát triển tiếp tục của phôi.
Các kỹ thuật trên đã được áp dụng tại nhiều trung tâm TTTON trên thế giới để cải thiện chất lượng phôi. Hiện nay tại Việt Nam, Trung tâm TTTON Vạn Hạnh và Trung tâm TTTON Bệnh viện An Sinh đã nghiên cứu áp dụng thành công các kỹ thuật trên từ năm 2009 để giúp tăng khả năng sống và phát triển của phôi TTTON.

Chẩn đoán di truyền cho phôi

Trước nay, người ta phải đợi đến khi phụ nữ có thai, sau đó mới thực hiện các phác đồ chẩn đoán tiền sản để xem thai nhi có bất thường hay không. Nếu thai bất thường, bác sĩ sẽ khuyên người mẹ bỏ thai. Hầu hết việc bỏ thai phải thực hiện vào ba tháng giữa của thai kỳ, khi thai đã lớn.
Kỹ thuật vi thao tác một lần nữa đã được các nhà khoa học áp dụng vào mục đích giảm thiểu vấn đề phá bỏ thai do bất thường về di truyền. Trong kỹ thuật sinh thiết phôi, một kim thủy tinh nhỏ, đường kính vài chục micromet được đưa vào phôi để hút một phôi bào (có thể hai). Sau đó phôi bào này được gửi đi chẩn đoán di truyền. Nếu kết quả chẩn đoán di truyền bình thường, phôi sẽ được cấy vào buồng tử cung.
Quy trình chẩn đoán di truyền phôi đã được nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Y dược TP.HCM, Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM và Trung tâm TTTON Vạn Hạnh phối hợp xây dựng thành công lần đầu tiên ở Việt Nam giữa năm 2009. Đây là đề tài nghiên cứu cấp thành phố do Sở Khoa học - công nghệ TP.HCM quản lý. Tuy nhiên, kỹ thuật này hiện chưa được Bộ Y tế cho phép ứng dụng trên lâm sàng.

Giúp phôi dễ làm tổ vào tử cung hơn

Trứng người và phôi người giai đoạn đầu được bảo vệ bởi một màng protein bên ngoài gọi là màng trong suốt (zona pellucida). Sau khi phôi di chuyển đến tử cung, phôi phải thoát ra khỏi màng này để có thể tiếp xúc với nội mạc tử cung. Sau đó phôi bắt đầu chui vào trong nội mạc tử cung (gọi là hiện tượng làm tổ) để có thể lấy chất dinh dưỡng từ máu mẹ và tiếp tục phát triển.
Trong một số trường hợp, do bất thường có sẵn hoặc do trong quá trình nuôi cấy ở điều kiện nhân tạo, màng trong suốt trở nên cứng chắc hơn. Điều này làm phôi không chui ra khỏi lớp màng này và hiện tượng làm tổ không thể xảy ra.
Trong kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng (assisted hatching), người ta dùng dung dịch tyrode có tính axit yếu hoặc tia laser không tiếp xúc để làm mỏng hay làm thủng một đoạn trên màng trong suốt. Điểm yếu trên màng trong suốt này sẽ tạo thuận lợi cho phôi sau đó thoát màng và làm tổ vào nội mạc tử cung đúng thời điểm.
Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được áp dụng thành công đầu tiên ở Việt Nam tại Trung tâm TTTON Vạn Hạnh (tháng 5-2008), hiện đã được áp dụng thường quy tại một số trung tâm hỗ trợ sinh sản hàng đầu ở Việt Nam.

Các triển vọng khác của kỹ thuật vi thao tác

Như vậy trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản hiện nay, vi thao tác đóng vai trò đặc biệt quan trọng từ quá trình tạo ra phôi đến giúp tăng khả năng phát triển của phôi, chẩn đoán di truyền cho phôi và giúp phôi làm tổ vào tử cung dễ dàng hơn.
Ngoài các ứng dụng nêu trên, các kỹ thuật vi thao tác hiện nay đang được ứng dụng rất mạnh mẽ trên các lĩnh vực nghiên cứu và áp dụng thực tiễn khác như chuyển gen, liệu pháp gen trên tế bào, chuyển nhân tế bào, tạo phôi nhân bản vô tính... Đây là những lĩnh vực bắt đầu được các nhà khoa học ở Việt Nam thuộc nhiều lĩnh vực chú ý và đầu tư nghiên cứu phát triển thành công những năm gần đây.
ThS. BS. Hồ Mạnh Tường Tuổi Trẻ OnlineTuổi Trẻ Online

Đánh giá kết quả tinh dịch đồ như thế nào?

Khi đánh một kết quả tinh dịch đồ cần lưu ý:

  • Cách thức lấy tinh dịch có đúng không, thời gian kiêng giao hợp trước khi lấy tinh dịch (3-5 ngày) và thời điểm phân tích mẫu thử phải trong khoảng 1 giờ sau khi lấy mẫu.
  • Nếu tinh dịch đồ có bất thường, nên thực hiện ít nhất 2-3 lần để đánh giá, kiểm tra và so sánh.
  • Kết quả và chuẩn bình thường tinh dịch đồ của mỗi phòng xét nghiệm ở những bệnh viện khác nhau có thể sẽ không giống nhau.

Khả năng có con của một người đàn ông

Để biết khả năng có con của một người đàn ông thì không thể chỉ có dựa vào kết quả tinh dịch đồ. Một số người vẫn có con bình thường dù kết quả tinh dịch đồ có số lượng tinh trùng ít hoặc yếu. Ngược lại, tinh dịch đồ bình thường cũng không thể đảm bảo người đó chắc chắn có thể có con.
Ví dụ, có hai cặp vợ chồng chưa có con, không dùng phương pháp ngừa thai gì. Cả hai người chồng đều có kết quả tinh dịch đồ giống nhau là số lượng ít: 18 triệu/ml, các chỉ số còn lại bình thường:
  • Cặp vợ chồng thứ nhất 23-25 tuổi, mới cưới được một năm. Khám người chồng về cơ quan sinh dục không có gì bất thường. Người vợ khám về phụ khoa cũng bình thường.
  • Cặp thứ hai 33-35 tuổi, đã cưới mười năm. Khám người chồng thấy bị giãn tĩnh mạch thừng tinh bên trái độ 3. Người vợ bị u xơ tử cung to.
Với cùng kết quả tinh dịch đồ giống nhau như vậy, nhưng khả năng có con tự nhiên của hai người sẽ hoàn toàn khác nhau. Cặp vợ chồng thứ nhất khả năng có con tự nhiên rất cao và họ có thể chờ đợi, trong khi đó cặp vợ chồng thứ hai khả năng có con tự nhiên rất thấp, họ cần phải được điều trị càng sớm càng tốt.
Như vậy để đánh giá khả năng có con cũng như hướng điều trị thế nào thì cần đánh giá cả hai vợ chồng, độ tuổi, thời gian quan hệ không sử dụng biện pháp tránh thai, các bệnh kèm theo, đã điều trị như thế nào… chứ không chỉ dựa vào kết quả tinh dịch đồ.

Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng

Hỗ trợ phôi thoát màng là gì?

Ở người, bình thường trứng và tinh trùng thụ tinh để tạo thành hợp tử trong vòi trứng. Sau đó, hợp tử sẽ đi theo vòi trứng vào buồng tử cung. Trong quá trình di chuyển vào buồng tử cung, hợp tử bắt đầu phân chia thành phôi. Sau khi đến tử cung phôi tiếp tục phát triển trong tử cung trong vài ngày nữa, đến khoảng ngày thứ 7 sau khi thụ tinh phôi bắt đầu làm tổ vào tử cung để phát triển thành thai nhi trong tử cung.


Trong quá trình di chuyển, phôi được bảo vệ bằng một màng bảo vệ bên ngoài gọi là màng trong suốt, tên khoa học là zona pellucida ZP. Do đó để có thể tiếp xúc với tử cung để bám vào để làm tổ, vào khoảng ngày thứ 6 sau thụ tinh, phôi phải chui ra khỏi lớp màng bảo vệ này (xem hình minh họa), hiện tượng làm tổ mới có thể xảy ra. Hiện tượng này giống như gà con phải chui ra khỏi vỏ trứng để có thể tiếp tục sống và phát triển.
Trong thụ tinh trong ống nghiệm, mặc dù phôi đã được nuôi cấy thành công và trưởng thành bên ngoài cơ thể, khi cấy vào tử cung, khả năng bám vào nội mạc tử cung làm tổ của phôi chỉ đạt trung bình 20%. Một trong những lý do được đưa ra để giải thích là, trong điều kiện nhân tạo, lớp màng trong suốt bị cứng chắc bất thường hoặc không mỏng đi trong quá trình phôi phát triển. Điều này làm cho phôi không thể thoát ra ngoài và bám vào nội mạc tử cung để làm tổ.
Dựa trên giả thuyết đó, các nhà khoa học phát triển các kỹ thuật làm mỏng hoặc làm thủng màng trong suốt bên ngoài phôi, giúp phôi dễ thoát ra ngoài và làm tổ vào tử cung hơn. Nhờ đó giúp cải thiện tỉ lệ thành công khi làm thụ tinh trong ống nghiệm.

Các phương pháp hỗ trợ phôi thoát màng

Kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được thực hiện và chứng minh hiệu quả lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1990, do Tiến sĩ Cohen thực hiện. Cho đến nay, hầu hết các trung tâm TTTON trên thế giới đều thực hiện kỹ thuật này để giúp làm tăng khả năng làm tổ của phôi sau TTTON.
Hiện nay, trên thế giới có 4 phương pháp được áp dụng để hỗ trợ phôi thoát màng:
  • Làm mỏng màng trong suốt bằng acid Tyrode: phổ biến nhất
  • Làm mỏng màng trong suốt bằng tia laser: ít phổ biến hơn phương pháp trên
  • Làm mỏng màng trong suốt bằng men pronase: hiện nay ít thực hiện
  • Làm thủng màng trong suốt bằng cơ học: hiện nay ít thực hiện
Các phương pháp trên đều có mục đích chung là làm mỏng hoặc làm thủng màng trong suốt bao quanh phôi trước khi chuyển phôi vào tử cung. Điều này sẽ giúp phôi sau khi vào buồng tử cung sẽ phát triển và thoát ra khỏi màng trong suốt dễ dàng hơn, khả năng làm tổ và phát triển thành thai cao hơn. Phác đồ thực hiện hỗ trợ thoát màng và tay nghề của chuyên viên về phôi học đóng vai trò rất quan trọng lên tỉ lệ thành công của kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng.

Những bệnh nhân có lợi nhiều nhất từ kỹ thuật này

Các báo cáo trên thế giới cho thấy rằng mặc dù kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được thực hiện rộng rãi cho tất cả các trường hợp, trong một số trường hợp, tỉ lệ có thai có thể cải thiện rất nhiều nhờ hỗ trợ phôi thoát màng, như:
  • Bệnh nhân thất bại nhiều lần mặc dù chất lượng phôi tốt
  • Bệnh nhân chuyển phôi trữ lạnh
  • Bệnh nhân ít phôi, lớn tuổi
  • Bệnh nhân có phôi có màng trong suốt dày bất thường
  • Bệnh nhân thực hiện kỹ thuật trưởng thành trứng trong ống nghiệm (IVM)