Showing posts with label Mang thai - Chuẩn bị sinh. Show all posts
Showing posts with label Mang thai - Chuẩn bị sinh. Show all posts

Friday, July 15, 2011

Lời khuyên cho các bà mẹ sắp sinh con (10 bài)

Bài 1. Những dấu hiệu sắp sinh ở thai phụ

Nếu thai đã đủ 38 – 40 tuần và thấy xuất hiện một số triệu chứng như: tử cung co thắt; âm đạo chảy ra chất màu máu; mót tiểu tiện; phá nước ối… thì bà bầu nên vào bệnh viện để chờ sinh. Tuy nhiên, ở mỗi người sẽ có những biểu hiện rất khác nhau. 

1.Âm đạo chảy nước và chất màu máu
Trước khi sinh khoảng 24 giờ, âm đạo của thai phụ thường chảy ra chất màu hồng của máu hoặc đột nhiên âm đạo chảy ra nhiều nước màu vàng. Thấy máu đỏ là do màng trong tử cung cuối kỳ mang thai tiết ra tố chất tuyến tiền liệt và nhau thai tiết ra hoóc môn sinh dục nữ, hoóc môn progestogen gây ra. Cùng với tử cung trưởng thành, mở rộng, chất nhầy trong cổ tử cung chảy ra, màng thai ở gần cửa trong cổ tử cung tách ra khỏi thành tử cung, dẫn đến các mạch máu nhỏ vỡ ra, trong chất nhầy cổ tử cung có lẫn ít máu, màu cà phê, màu phấn hồng hoặc màu đỏ tươi, hiện tượng này gọi là thấy máu đỏ. Đây là một trong những dấu hiệu phổ biến thông báo thai phụ sắp sinh. Lúc này, khoang cửa tử cung và bên ngoài tương thông với nhau, vì thế âm đạo của thai phụ rất dễ bị nhiểm khuẩn từ ngoài vào.Thai phụ cần giữ vệ sinh thật tốt, tránh nhiễm khuẩn.
2. Tiểu tiện tăng lên, tử cung co thắt nhiều lần
Đối với người sinh con lần đầu, trước khi sinh khoảng 2 tuần, do đầu thai nhi chúi xuống dưới để ra ngoài đã tạo nên sự bức bách bàng quang, vì thế số lần tiểu tiện tăng lên và đi lại khó khăn hơn. Triệu chứng đau bụng từng cơn xuất hiện và tử cung co thắt, cường độ tăng dần lên. Đến lúc này, thai phụ sẽ cảm thấy đau dữ dội và chỉ muốn tiểu tiện. Thai phụ nên nhập viện thăm khám.
3. Đau eo lưng và chân trương phù
Đầu thai nhi ép xuống và ép thần kinh hệ dẫn đến chân của thai phụ không được thoải mái, gây trương phù, đại tuỷ bị co, eo đau… Các triệu chứng này cũng báo hiệu hiện tượng sắp sinh ở thai phụ.
4. Đau từng cơn đều đặn phần bụng
- Nếu thai nhi đã đủ tháng mà bà bầu thường có cảm giác đau tức phần bụng dưới hoặc đau mỏi phần lưng.
- Nếu thời gian đau liên tiếp nhưng không đều thì chỉ cần nghỉ ngơi sẽ giảm hoặc hết. Đó là biểu hiện đau đẻ giả. Nếu phần bụng đau từng cơn đều đặn, sau khi nằm nghỉ vẫn không hết, mà đau hết cơn này đến cơn khác, thời gian cách nhau dần dần rút ngắn, thời gian đau càng ngày càng dài và dần dần tăng lên thì đây mới chính là báo trước sắp đẻ thật.
5. Vỡ nước ối sớm
Vỡ nước ối sớm là chỉ màng thai rách trước khi chuyển dạ, tức là màng thai rách sớm dẫn đến nước ối chảy ra. Trước khi sinh, âm đạo chảy ra lượng nước rất nhiều, như đi tiểu tiện mà không thể khống chế, tức là vỡ nước ối sớm. Hiện tượng này rất nguy hiểm đến tính mạng của thai nhi, vì thế thai phụ cần vào nhập viện sớm.
Ngoài ra, nếu thai phụ thấy vị trí thai không đúng, cụ thể là thai ngược, hoặc đột nhiên thai phụ thấy đau đầu, đau ngực, khó chịu, âm đạo không đau mà chảy máu nhiều, xương chậu hẹp, có tiền lệ thai chết ngạt, mắc bệnh tim gan… đều nên vào bệnh viện sớm để chờ sinh con, phòng bất trắc có thể xảy ra.

Bài 2. Sinh đẻ bắt đầu như thế nào?

Sinh đẻ không phải lúc nào cũng bắt đầu một cách rõ ràng, chính xác và giống như bản in. Nếu bạn đang mang thai lần đầu tiên, có khi nào bạn tự hỏi không biết khi nào thì mình cần đến nhà hộ sinh. Về mặt lý thuyết, việc bắt đầu sinh đẻ thường ghi nhận bằng sự tống chất nhầy ra ngoài và sự xuất hiện các cơn co bóp tử cung gây đau.
1. Sự tống chất nhầy ra ngoài
Nó được đặc trưng bằng việc thải các chất tiết nhớt, chất này bít cổ tử cung trong lúc mang thai. Vì vậy khi chất nhầy tống ra, thai phụ thường nghĩ đến việc phải đến nhà hộ sinh ngay. Nó là dấu hiệu cho thấy cổ tử cung bắt đầu thay đổi. Tuy nhiên, điều đánh dấu thời điểm bắt đầu sinh đẻ, đó là sự xuất hiện các cơn co bóp gây đau của tử cung.
2. Sự xuất hiện những cơn co bóp tử cung gây đau
Các cơn co bóp có thể xuất hiện trong những tháng cuối cùng và nhất là trong những tuần lễ cuối cùng của thai kỳ. Bạn có thể cảm nhận những co bóp đó bằng cách đặt tay lên bụng: Bạn cảm thấy bụng thỉnh thoảng cứng lại. Những cơn co bóp này không theo nhipj điệu chính xác, không mang tính chu kỳ, chúng hỗn loạn và nói chung không đau đớn. Chúng không biểu hiện bước đầu của việc sinh đẻ.
Bạn cũng có một vài cơn đau, có khi như là một cảm giác đè nặng, có khi như cảm giác xương căng ra. Các cơn đau này tương ứng với việc đầu đứa trẻ tiến vào khung chậu hoặc với những thay đổi của khung chậu. Nhưng các cơn đau này không có những co bóp đi kèm.
Những co bóp không đau, nhưng cơn đau không có co bóp không báo trước việc sinh đẻ. Sự kết hợp co bóp và đau đớn càng lúc càng mạnh và đều thì đó là dấu hiệu của việc sinh đẻ.
Những co bóp đầu tiên thường được cảm nhận trong bụng, nhưng chúng cũng có thể được cảm nhận được ở ngang thắt lưng.
Ban đầu các co bóp ít mãnh liệt, nhưng không phải lúc nào cũng dễ nhận thấy, chúng giống như một cú kẹp đơn giản hoặc cơn đau lúc hành kinh. Những cú kẹp này dè dặt đến nỗi bạn không chắc là chúng có phải là những cơn co bóp hay không, chỉ có cách đơn giản là bạn đặt tay lên bụng nếu thấy bụng cứng lại có nghĩa là tử cung đang co bóp.
Những đặc tính của co bóp tử cung đó là:
- Các co bóp đều đặn, chúng trở lại theo một nhịp điệu chính xác, hơn nữa bạn có thể ghi lại thời điểm diễn ra giữa hai lần co bóp.
- Các lần co bóp càng lúc càng gần lại.
- Càng lúc càng kéo dài.
- Chúng càng lúc càng dữ dội, đau đớn.
Bạn sẽ cảm giác như chúng dâng lên như một cơn sóng, chúng xâm chiếm bạn, lan rộng như một làn sóng xuất phát ở giữa lưng, và chia thành hai nhánh bao vùng hang và gặp nhau lại trong bụng vừa siết chặt cơ thể như một giây nịt.
Khi bạn cảm thấy những co bóp yếu ớt lúc ban đầu, những cú kẹp đã báo động cho bạn cuối cùng trở thành những co bóp rất nhịp nhàng, càng lúc càng gần, càng dài ra, càng mãnh liệt, càng đau đớn, bạn nên biết rằng chúng đang chuẩn bị cho đứa con ra đời.
3. Tình trạng ra nước ối
Một vài phụ nữ nghĩ rằng dấu hiệu đầu tiên của việc sinh đẻ là ra nước ối. Thực tế, tình trạng này có thể diễn ra vào những thời điểm khác nhau.
Đôi khi, rất khó để biết màng ối đã rách hay chưa. Càng gần ngày sinh, tử cung càng chèn ép nặng lên bàng quang. Vì thế, một cơn co Braxton Hick (chuyển dạ giả) hoặc hắt hơi có thể gây són tiểu. Điều này có thể bị nhầm lẫn với rò rỉ nước ối.
Nếu là rò ối thì khi nằm xuống, bạn vẫn có cảm giác dòng nước thoát ra từ vùng kín. Bạn có thể tự kiểm tra xem màu sắc và tính chất của chất lỏng rò rỉ từ âm đạo. Nước ối bình thường có màu mây trắng hoặc màu hổ phách. Nếu chất lỏng rò rỉ có một trong số đặc điểm sau, bạn cũng nên đi khám sớm:
- Có màu tối sẫm (hoặc hơi xanh): do meconium (phân của bé trong bụng mẹ) có thể lẫn vào đó.
- Có mùi hôi: có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng tử cung.
- Đẫm máu: vài vệt máu nhỏ có thể không nguy hại nhưng chất rò rỉ toàn máu có thể do vấn đề ở nhau thai.
Nếu nghi ngờ bị vỡ ối, hãy:
- Đi khám ngay để chắc chắn, bạn không bị vỡ ối sớm hoặc nếu có, cũng được xử trí kịp thời.
- Tránh để bất cứ thứ gì vào âm đạo, không quan hệ vợ chồng và không thụt rửa quá mức.
4. Cần làm gì khi chắc chắn việc sinh đẻ đã bắt đầu?
Khi bạn tin chắc việc sinh đẻ đã bắt đầu bạn nên kịp thời đến bệnh viện chờ sinh. Trước khi lên bàn đẻ bạn nên đi vệ sinh. Điều đó giúp bạn khỏi co quắp lại để nín nhịn vài giờ sau đó. Khi trẻ tựa vào đại tràng bạn thường rất thèm đi tiểu, những bài tập thư giãn và việc luyện hít thở sâu cũng sẽ giúp bạn giảm bớt những khó chịu này.

Bài 3. Hành trình chào đời của bé

Cao điểm của tiến trình chuyển dạ đã tới và em bé của bạn sắp sửa ra đời. Thật là hào hứng khi bạn có thể sờ thấy đầu em bé lần đầu khi bé mới chồi ra, và chẳng mấy chốc sau đó là tiếng khóc oe oe của bé khi chào đời.
1. Chặng đường thứ nhất
Đầu của bé di chuyển tới gần cửa âm đạo hơn cho đến khi có thể nhìn thấy chỗ phình ra đè vào đáy xương chậu. Chẳng bao lâu đầu em bé sẽ lộ ra, cứ mỗi cơn co thắt lại tiến về phía trước và có lẽ hơi trượt ngược trở lại khi cơn co thắt biến dần. Điều này hoàn toàn bình thường.
2. Chặng đường thứ hai
Khi cái đầu đội lên (trông thấy đỉnh đầu), lúc này người đỡ đẻ sẽ yêu cầu bạn dừng rặn vì nếu cái đầu vọt ra quá nhanh, bạn có thể bị rách da. Vì thế bạn hãy thư giãn và thở hổn hển trong vài giây. Nếu có nguy cơ rách da nghiêm trọng hoặc em bé mệt người ta sẽ dùng thủ thuật cắt âm hộ cho bạn. Khi đầu em bé nong rộng cửa âm đạo, bạn sẽ cảm thấy như bị châm chích, nhưng cảm giác này chỉ thoáng qua trong chốc lát và chẳng bao lâu sau thì thấy tê vì các mô đã bị kéo căng quá mức.
3. Chặng đường thứ ba
Cái đầu bé đã chui ra được, mặt bé úp xuống. Bác sỹ đỡ đẻ cho bạn sẽ phải kiểm tra xem dây rốn có cuốn quanh cổ bé không. Nếu có dây rốn cuốn quanh cổ thì bác sĩ hộ sinh sẽ phải lồng nó trượt qua đầu em bé khi cái thân được đỡ ra. Rồi em bé xoay đầu sang một bên thẳng hàng với vai. Bác sĩ sẽ lau sạch mắt, mũi, miệng cho bé, nếu cần thì bác sỹ sẽ hút những chất lỏng nằm trong đường hô hấp trên của bé.
4. Chặng đường cuối cùng
Thân bé trượt ra ngoài trong vòng hai lần co thắt tiếp theo. Thường thì bác sĩ hộ sinh sẽ sốc nách nhấc bổng bé lên đặt lên bụng mẹ còn nguyên cả dây rốn đang dính liền để bé được tận hưởng hơi ấm đầu tiên từ mẹ. Thoạt tiên bé có thể trong xanh, trên da bé có thể bao phủ lớp màng mỏng hoặc vết máu dài. Thông thường khi ra khỏi bụng mẹ bé sẽ cất tiếng khóc vì lúc này phổi và hệ hô hấp của bé bắt đầu đi vào hoạt động ngoài không khí, bé không còn sống phụ thuộc vào hơi thở của mẹ nữa, nếu bé không khóc các bác sỹ sẽ làm cho bé khóc. Tiếp theo là bé được cắt dây rốn, chấm dứt cuộc hành trình 9 tháng trong bụng mẹ và bắt đầu một cuộc sống mới.
Trên đây là cuộc hành trình của bé trước khi cất tiếng khóc chào đời đối với những bé sinh thường. Thật khó khăn vất vả nhưng cũng không gì hạnh phúc bằng phải không bạn. Bạn hãy ghi nhớ cuộc hành trình này của bé để có cách thức tốt nhất hỗ trợ bé trong cuộc hành trình của bé nhé bạn!

Bài 4. Các tư thế giúp bà bầu chuyển dạ thành công

Có rất nhiều tư thế mà bạn có thể áp dụng để giảm sự khó chịu trong giai đoạn đầu tiên của quá trình sinh nở. Một số phụ nữ thích đứng thẳng và đi lại xung quanh để thời điểm chuyển dạ đến nhanh hơn. Khi chuyển dạ, bạn có thể chuyển sang tư thế ngồi xổm hay quỳ gối, dùng nệm, ghế tựa hoặc dựa vào chồng.
1. Tư thế đứng
Đứng dựa vào tường hoặc chồng. Lúc sắp sinh, trọng lượng của bào thai sẽ khiến bạn đau và mỏi lưng, và tư thế này có thể giúp bạn cảm nhận được sự thoải mái; giúp những cơn co bóp dạ con sẽ hiệu quả hơn vì trọng lực sẽ đẩy đầu thai nhi chúc xuống cổ tử cung. Lúc này, bạn hãy đung đưa hông theo vòng tròn và thở nhịp nhàng.
2. Tư thế ngồi
Nếu bạn cảm thấy ngồi sẽ dễ chịu hơn, hãy ngồi ngả người về phía trước, hai chân giang rộng lên tấm nệm hoặc gối vắt trên thành ghế. Hoặc có thể ngồi dựa vào chồng và nhờ anh ấy xoa lưng cho bạn. Tư thế ngồi thẳng khi sinh là tư thế tự nhiên nhất cho sản phụ, không chỉ nó làm cho họ dễ chịu mà còn vì lý do cơ học: Lúc đó, tử cung sẽ co bóp theo hướng xuống dưới, trùng với hướng đẩy của các cơ bụng khi sản phụ rặn, và trọng lực sẽ giúp thai nhi xổ ra.
Tư thế sinh ngồi thẳng hiệu quả hơn tư thế nằm ngửa, vì trọng lực sẽ giúp thai nhi lọt lòng mẹ dễ dàng hơn.
3. Tư thế quỳ
Khi những cơn co bóp mạnh hơn, thay vì đứng, bạn sẽ cảm thấy đỡ mệt hơn nếu chống hai tay và quỳ gối xuống. Tư thế này sẽ làm nhẹ bớt cảm giác đau lưng. Hai chân quỳ cách xa nhau, nhô thẳng hông về phía sau. Giữ cho lưng thẳng chứ không được võng xuống. Giữa những cơn co bóp để cánh tay đỡ mỏi bạn có thể đặt cả cánh tay xuống đất hoặc ngồi lên gót chân.
4. Tư thế nằm
Lúc chuyển dạ bạn sẽ thấy thoải mái nhất nếu ở tư thế nằm. Thay vì nằm áp lưng xuống giường, bạn có thể nằm nghiêng sang một bên, kê gối dưới đầu và đùi. Hai chân đặt cách xa nhau.
Nếu sản phụ sinh ở tư thế nằm ngửa, tử cung sẽ co bóp để đẩy thai nhi theo hướng âm đạo, tức là chếch lên trên, khi đó trọng lực lại trở thành tác nhân cản trở và sản phụ phải dùng thêm sức chống lại nó. Điều này chẳng những kéo dài thời gian chuyển dạ mà còn có thể đưa đến nhiều tai biến.
Những bất lợi khi sinh con ở tư thế nằm ngửa:
- Huyết áp hạ, làm giảm lượng máu và dướng khí nuôi thai nhi.
- Đau nhiều hơn.
- Có nhiều khả năng phải cắt tầng sinh môn.
- Có nhiều khả năng phải dùng forceps để giúp sinh.
- Gây cản trở quá trình bong nhau tự nhiên.
- Dễ gây đau thắt lưng.

Bài 5. Một vài mẹo nhỏ giúp bà bầu lúc chuyển dạ

Không có tư thế nào phụ hợp với tất cả mọi người, do đó tư thế nào đem lại cho bạn sự dễ chịu thì nên áp dụng. Chúng ta cứ thử nhiều tư thế để tìm ra cách phù hợp với mình, nhưng nhớ là luôn giữ thẳng người khi đi lại, khi đứng, ngồi hay quỳ. Như vậy sẽ đỡ đau hơn và rút ngắn được thời gian chuyển dạ.
1. Giai đoạn đầu của chuyển dạ
Giai đoạn này dài nhất của quá trình sinh nở. Nó thường kéo dài từ 6 – 10 tiếng, tính từ khi mới bắt đầu chuyển dạ. Trong giai đoạn này, sự co thắt dần lên về cường độ để cổ tử cung của bạn mở ra từ từ cho bé di chuyển vào đường sinh.
Vượt qua cơn đau lúc chuyển dạ: Không có tư thế nào phụ hợp với tất cả mọi người, do đó tư thế nào đem lại cho bạn sự dễ chịu thì nên áp dụng. Chúng ta cứ thử nhiều tư thế để tìm ra cách phù hợp với mình, nhưng nhớ là luôn giữ thẳng người khi đi lại, khi đứng, ngồi hay quỳ. Như vậy sẽ đỡ đau hơn và rút ngắn được thời gian chuyển dạ.
Tư thế ngồi: Bà bầu nên cố gắng giữ sức trong lúc chuyển dạ. Cúi người ra trước để tạo áp lực lên cổ tử cung và để giảm gánh nặng lên vùng lưng dưới. Nếu cần chỗ dựa trong lúc co thắt thì hãy ngồi quay mặt về phía lưng ghế và kê thêm gối để nghỉ giữa các cơn co thắt.
Tư thế quỳ: Quỳ và chồm người về phía trước với hai tay duỗi thẳng sẽ giảm bớt áp lực lên cổ tử cung. Tư thế này sẽ làm chậm lại sự co thắt, nhưng lại rất hữu ích khi các cơn co thắt diễn ra càng lúc càng liên tục và gần nhau hơn. Ngoài ra, tư thế này còn giúp giảm bớt gánh nặng cho lưng vốn phải chịu nhiều áp lực trong thai kỳ.
Tư thế đứng: Đứng và đi lại giữa các cơn co thắt lúc mới bắt đầu chuyển dạ sẽ tạo áp lực cho cổ tử cung, làm nó mau giãn nở hơn. Dựa vào tường hoặc dựa vào người chồng để giữ thăng bằng giữa các cơn co thắt. Chồng bạn cũng có thể xoa bóp lưng để giảm đau cho bạn.
Ngoài ra, bạn cũng cần:
- Thở đều đặn và thư giãn.
- Không nên nín thở trong lúc đang co thắt mà hãy thở ra khi thả lỏng vai và hàm. Không nên gồng mình khi cơn co thắt lên đến đỉnh điểm, vì như vậy sẽ càng đau hơn.
- Hãy suy nghĩ theo hướng tích cực khi diễn ra cơn co thắt. Tự nhủ rằng, mỗi lần co thắt sẽ giúp bé nhanh chào đời hơn.
- Hãy nghe sự mách bảo của chính cơ thể mình và chọn những tư thế mà bạn thấy thoải mái nhất.
- Nếu thấy đau lưng thì nên chườm lưng bằng chai hoặc túi nước nóng.
- Hãy nhờ chồng xoa bóp và có thể dùng thêm tinh dầu để massage.
2. Giai đoạn chuyển tiếp và bé chào đời
Đây là giai đoạn khi tử cung đã giãn nở hoàn toàn (khoảng 10cm) và kết thúc khi bé đã lọt lòng. Giai đoạn này kéo dài khoảng 30 phút đến 1 giờ, nhưng đôi khi chỉ 10 phút hoặc kéo dài đến 2 tiếng. Thông thường, các bác sĩ sẽ can thiệp khi giai đoạn này kéo dài quá 2 tiếng đồng hồ.
Trong khoảng thời gian này, bạn thường cảm thấy nóng bức, đổ mồ hôi hoặc lạnh run, đôi khi đan xen cả hai trạng thái này. Ngoài ra, bạn còn cảm thấy buồn nôn, ói mửa. Lúc này, người thân có thể chườm lạnh hoặc ấm cho thai phụ.
- Hãy rặn theo hướng dẫn của nữ hộ sinh, không nên cố rặn, vì nếu cố rặn khi cổ tử cung chưa giãn nở sẽ làm cho cổ tử cung bị sưng. Như vậy càng khó đẩy bé ra ngoài và bị bầm tím gây đau.
- Nên quỳ xuống và đẩy mông lên để giảm bớt áp lực của bào thai lên cổ tử cung, nhờ đó bạn cũng đỡ có cảm giác muốn rặn hơn và giúp giữ lại sức để tiếp tục đối phó với giai đoạn gay go hơn.
Để đẩy bé ra dễ dàng, bạn nên thở sâu khi cơn co thắt đang diễn ra và khi sự co thắt lên đến đỉnh điểm. Hãy cố rặn trong 5 giây (nín thở khi không cần thiết có thể làm bạn kiệt sức và làm giảm lượng ôxy đến bé). Nếu cơn co thắt vẫn còn đang lên cao thì hãy thở vài lần thật sâu, sau đó tiếp tục rặn. Bạn sẽ có cảm giác bị thúc đẩy phải rặn từ 3 – 5 lần mỗi khi cơn co thắt xuất hiện. Sau mỗi cơn co, đầu bé ngày càng lộ ra rõ hơn và sau đó lại thụt vào một chút giữa các cơn co thắt. Bạn có thể sẽ phải rạch âm đạo – vết cắt nhỏ ở đáy chậu ngay phần da giữa âm đạo và trực tràng để tránh rách cơ.
Khi bé sắp lọt lòng, đầu của bé sẽ lộ ra ở cửa âm đạo và không còn bị thụt vào nữa. Bạn sẽ được ra hiệu ngừng rặn khi đầu bé từ từ được đẩy ra. Chất nhầy ở miệng và mũi bé được hút sạch, sau đó bạn sẽ rặn thêm lần nữa để vai và phần còn lại của bé được đẩy ra hoàn toàn. Nếu bé vẫn chưa thở thì bác sĩ phải hút chất nhầy lần nữa hoặc phải cho bé trợ thở bằng ôxy. Nếu mọi chuyện ổn thoả, bé sẽ được cắt dây rốn và cuối cùng là nhau thai được tống ra ngoài. Lúc này, bác sĩ sẽ kiểm tra xem còn sót lại mảnh nào bên trong không, vì nếu còn xót sẽ gây xuất huyết và nhiễm trùng. Cuối cùng, vùng đáy chậu được khâu lại, nếu trước đó bị rách hoặc bị rạch cho bé lọt ra.

Bài 6. Để cuộc đẻ của bạn dễ dàng hơn

Các bà bầu thường lo lắng khi sắp đến ngày vượt cạn và làm thế nào để sinh bé an toàn? Mình có bị đau nhiều không? Việc sinh đẻ thật đáng sợ và quá sức… Hãy nhớ rằng, việc sinh đẻ là điều hoàn toàn tự nhiên và bạn có thể dễ dàng vượt qua nó nếu làm theo những chỉ dẫn dưới đây.
1. Cần có tâm trạng tốt
Quan niệm trước đây cho rằng, khó sinh hay chảy máu quá nhiều khi sinh đều có nguyên nhân từ những yếu tố như đường sinh sản khác thường, ngôi thai không chuẩn, thai nhi dị thường, nước ối quá nhiều, nhau thai khác thường… Nhưng hiện nay, các nhà y học phát hiện ra rằng, mọi tâm trạng không tốt của phụ nữ mang thai cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến khó sinh.
Rất nhiều thai phụ do sinh lần đầu nên thiếu hiểu biết đối với việc sinh đẻ, cho rằng: sinh đẻ phát sinh cơn đau dữ dội, cũng có người lo lắng quá về vấn đề sức khoẻ và giới tính của thai nhi… Do đó, khi sinh thường có những tâm trạng không tốt như căng thẳng, lo lắng, bất an, hoảng sợ, u uất, nôn nóng… Những tâm trạng không tốt này có thể gây ức chế việc co rút cổ tử cung, thông qua hệ thống của thần kinh trung ương, dẫn đến cổ tử cung co bóp không có lực, cổ tử cung không mở…
Những tâm trạng không tốt trong quá trình sinh còn có thể gây ra quá trình bài tiết hormon ở vùng dưới đồi và tuyến yên có những thay đổi khác thường cũng là nguyên nhân làm yếu sức co bóp của tử cung, làm cho quá trình sinh kéo dài hay tăng lượng xuất huyết sau khi sinh. Ngoài ra, tinh thần quá căng thẳng của thai phụ sẽ làm cho vỏ não mệt mỏi, ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung. Lâm sàng phát hiện, đối với việc khó sinh hay xuất huyết quá nhiều sau khi sinh do những tâm trạng không tốt, nếu không xử lí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng của sản phụ và thai nhi.
Để tránh phát sinh những tâm trạng nêu trên, thai phụ nên nắm những kiến thức cần thiết trước khi sinh, xoá bỏ những lo lắng không cần thiết, cố gắng kiểm soát tâm trạng của bản thân. Các chuyên gia y học nhấn mạnh rằng, sản phụ khi chuyển dạ không sợ hãi, không lo lắng, duy trì được tâm trạng vui vẻ, thoải mái sẽ rất có lợi cho việc chào đời thuận lợi của thai nhi và quá trình hồi phục tử cung sau sinh.
2. Hạn chế sự la hét khi chuyển dạ
Khi một số sản phụ trong phòng sinh chuyển dạ, không thể chịu đựng được cơn đau do quá trình co bóp tử cung thì la to, hét lớn. Các thai phụ mong lấy việc la hét để giảm nhẹ cơn đau. Việc la hét liên tục này sẽ làm cho cơ thể và tinh thần thai phụ ở vào trạng thái căng thẳng cao độ trong thời gian dài và chỉ có hại chứ không có lợi đối với việc sinh đẻ.
- Một số sản phụ khi sinh thông qua việc la hét quá mức, hy vọng thu hút được sự quan tâm và yêu thương của chồng. Từ đó, nhận được càng nhiều sự đồng tình và lo lắng của người nhà.
- Sản phụ la hét chỉ làm tiêu hao năng lượng sức lực, cũng ảnh hưởng đến việc dùng lực bình thường khi sinh, gây kéo dài quá trình sinh.
- Sản phụ khi la hét, khóc thường nuốt một lượng không khí lớn, dẫn đến ruột bị đầy hơi. Việc la hét sẽ ảnh hưởng chức năng của dạ dày và ruột đến nỗi không thể ăn uống bình thường, kèm theo nôn mửa, khó tiểu tiện. Điều này ảnh hưởng đến tính nhịp nhàng của quá trình co bóp cổ tử cung.
- Khóc lóc liên tục dễ làm cho tử cung co bóp thiếu lực, cổ tử cung không thể mở rộng, gây nên hiện tượng đình trệ trong quá trình sinh sản. Có thể thai nhi sẽ bị xoay chuyển, dẫn đến khó sinh.
- La hét, khóc là thái độ không tốt, để lại ấn tượng xấu đối với người khác. Nó làm người khác căng thẳng, không biết phải xử trí như thế nào, khó phối hợp với những điều phục vụ vần thiết mà nhân viên khoa sản đưa ra.
- La hét quá độ làm cản trở công việc bình thường của nhân viên y tế, ảnh hưởng đến các sản phụ khác đang chờ sinh làm cho họ căng thẳng tinh thần.
- La hét không làm giảm nhẹ cơn đau, ngược lại sẽ làm tinh thần căng thẳng, tăng sự nhạy cảm đối với cơn đau, tiêu hao sức lực, làm cho cảm giác đau đớn tăng chứ không giảm.
Thai phụ khi chuyển dạ, trước hết phải chuẩn bị tinh thần chịu đựng cơn đau do co bóp tử cung, nên tự điều chỉnh tâm lí, tinh thần thư giãn, không nên sợ đau. Bởi vì lo sợ không làm giảm nhẹ cơn đau, ngược lại càng sợ đau thì càng đau. Các thai phụ nên tăng cường phối hợp giữa thả lỏng cơ thể và điều tiết hô hấp. Sản phụ phối hợp tốt với sự chỉ dẫn của bác sĩ mới đảm bảo tiến triển thuận lợi trong quá trình sinh đẻ.
3. Khi sinh nên có chồng bên cạnh
Nghiên cứu cho thấy, sự có mặt của người chồng bên cạnh khi sinh sẽ giúp người vợ những việc như sau:
- Có thể rút ngắn quá trình sinh đẻ, làm cho việc sinh đẻ của người vợ thuận lợi hơn. Người chồng có thể dựa theo những chỉ dẫn của nhân viên trợ sản để động viên giúp đỡ người vợ tập những bài thể dục trước khi sinh. Các động tác cụ thể mà sản phụ cần phải phối hợp chặt chẽ khi sinh. Khi người chồng đảm nhận việc chỉ dẫn này sẽ giúp người vợ thực hiện sinh đẻ tốt mà không rụt rè, đồng thời có thể thực hiện thành thục.
- Người chồng bên cạnh vợ khi chuyển dạ có thể giảm bớt tỷ lệ phát chứng co giật một cách rõ rệt. Vì chứng co giật là bệnh thường phát trong thời kì chuyển dạ của thai phụ. Biểu hiện chủ yếu là căng thẳng thần kinh, huyết áp tăng cao, phù nghiêm trọng. Nguyên nhân phát bệnh chủ yếu đó là do thai phụ lo lắng, hoảng sợ về mặt tư tưởng, quá căng thẳng về mặt tinh thần. Nếu có chồng bên cạnh sản phụ sẽ cảm thấy yên tâm, tin tưởng và tập trung hơn cho cuộc vượt cạn của mình.
- Người chồng có thể làm người phụ tá tốt nhất cho nhân viên trợ sản. Khi vợ sinh, người chồng ở bên cạnh, giúp sản phụ lau mồ hôi, chăm sóc, an ủi, khuyên nhủ, có lợi trong việc phòng tránh những cơn la hét và những động tác mù quáng cho thai phụ. Việc này sẽ giúp thai phụ tránh tiêu hao thể lực một cách vô ích, tránh dẫn đến co bóp tử cung.
- Người chồng bên cạnh khi chuyển dạ sẽ làm tăng thêm tình cảm vợ chồng, làm cho người chồng càng thương vợ hơn và người vợ tin tưởng chồng hơn.
Những người đàn ông sắp được làm cha, nên xoá bỏ những thành kiến, học một số kiến thức vệ sinh có liên quan đến việc hộ lí thai phụ để giúp người vợ chuyển dạ thuận lợi hơn.

Bài 7. Hiện tượng đau đẻ

Tìm hiểu đôi chút về quá trình đau đẻ là một việc rất quan trọng. Nhờ đó, bạn sẽ nhận biết được khi nào mình đau đẻ và biết phải làm gì khi cơn đau đẻ bắt đầu.
1. Nguyên nhân đau đẻ
Rất tiếc là chúng tôi lại không có câu trả lời xác đáng cho vấn đề này, vì nguyên nhân gây ra những cơn đau đẻ hiện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu tìm ra. Có rất nhiều lý thuyết giải thích nguyên nhân dẫn đến đau đẻ. Một trong số đó cho rằng, các loại hoóc môn do cả bà mẹ và thai nhi sản xuất ra đã “châm ngòi” cho hiện tượng này. Một lý thuyết khác lại cho rằng, chính cơ thể của bào thai đã sinh ra loại hoóc môn làm tử cung co thắt.
2. Qúa trình đau đẻ
Đau đẻ là quá trình mở dần cổ tử cung (giãn và nở). Đau đẻ xuất hiện do cơ ở tử cung co thắt để đẩy thai nhi ra ngoài. Khi thai nhi đã được đẩy ra, cổ tử cung sẽ giãn.
Nhiều lúc bạn sẽ cảm thấy tử cung thắt lại, co bóp hoặc bị ép mạnh, nhưng đó không thực sự là đau đẻ cho tới khi diễn ra một số thay đổi ở cổ tử cung.
3. Những dấu hiệu trước khi đau đẻ
- Nước đầu ối: Nhiều phụ nữ có kinh nghiệm với “nước đầu ối”, việc tiết ra một thứ chất nhầy màu hồng nhạt/đỏ từ âm đạo. Chất nhờn này bảo vệ dạ con khỏi nhiễm trùng trong thời gian mang thai và sự xuất hiện của nó là một dấu hiệu cho thấy rằng, cơn đau đẻ sẽ có thể bắt đầu trong một vài giờ/ngày sắp tới.
- Đau lưng dưới: Cần phải đi vệ sinh và chứng chuột rút giống như thời kỳ tiền kinh nguyệt là những dấu hiệu của việc đau đẻ sớm.
- Nước ối vỡ: Điều này có thể xảy ra với một dòng chảy, phụ thuộc vào lượng chất lưu màng ối của bạn. Chất lưu đó hoàn toàn sạch với màu vàng nhẹ và có thể bị nhuốm máu đầu tiên. Sử dụng băng vệ sinh, nếu dung dịch vẫn tiếp tục chảy, nhưng nếu có nhiều chất lưu bạn có thể cần đến một băng thấm lớn. Bạn nên liên lạc với bệnh viện trong trường hợp dịch ngừng chảy, bởi vì lúc đó có thể bắt đầu bị nhiễm trùng.
- Các cơn co bóp bắt đầu: Nó có thể diễn ra trong hàng giờ, thậm chí là hàng ngày đối với các cơn co bóp để tạo nên và gây áp lực cho cổ tử cung mở ra (giãn ra).
4. Ba giai đoạn của quá trình đau đẻ
Giai đoạn 1: Giai đoạn một bắt đầu với những cơn co thắt tử cung dài, liên tục với cường độ mạnh làm mở cổ tử cung. Giai đoạn 1 kết thúc khi cổ tử cung đủ mở (thường khoảng 10 cm) để đầu thai nhi có thể chui lọt.
Giai đoạn 2: Giai đoạn của quá trình này bắt đầu khi cổ tử cung mở hoàn chỉnh 10 cm và kết thúc khi đứa trẻ chào đời.
Giai đoạn 3: Giai đoạn này bắt đầu ngay sau khi đứa trẻ chào đời và kết thúc khi nhau thai và màng ối được đẩy ra ngoài cơ thể mẹ.
Một số bác sĩ cho rằng, quá trình này gồm 4 giai đoạn, giai đoạn thứ 4 là khoảng thời gian sau khi nhau thai đã được đẩy ra ngoài, tử cung co bóp trở lại. Sự co bóp của tử cung là rất quan trọng trong việc khống chế chảy máu sau khi sinh và sau khi nhau thai đã được đẩy ra ngoài.
5. Quá trình đau đẻ kéo dài bao lâu?
Thời gian đau đẻ qua 2 giai đoạn 1 và 2 của quá trình đau đẻ, từ khi cổ tử cung mở rộng đến khi hoàn tất việc sinh nở là khoảng từ 14 – 15 tiếng, có thể kéo dài hơn ở những trường hợp sinh con lần đầu. Thời gian đau đẻ của nhiều phụ nữ có thể ngắn hơn, không phải trường hợp nào cũng là 14 đến 15 tiếng.
Các bà mẹ từng sinh nở một hoặc hai lần thường đau đẻ nhanh hơn, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng. Thời gian đau đẻ trung bình thường giảm đi vài tiếng đồng hồ ở những lần sinh thứ 2 và thứ 3.
Cũng có những phụ nữ chỉ mất khoảng từ 1 đến 2 tiếng để đau đẻ và sinh con, nhưng lại có những phụ nữ phải mất 18, 20, 24 tiếng hoặc lâu hơn nữa.
Chúng tôi không thể đoán trước được khoảng thời gian đau đẻ của từng phụ nữ, bạn có thể hỏi bác sĩ của bạn, nhưng chắc rằng câu trả lời nhận được cũng chỉ là một sự phỏng đoán.

Bài 8. Cắt tầng sinh môn khi sinh

Trong cơ thể, vùng đáy chậu hay tầng sinh môn là bộ phận ít được biết đến nhưng rất quan trọng trong lúc sinh đẻ và nhạy cảm trong quan hệ tình dục. Thai phụ khi sinh, những nếp nhăn niêm mạc ở lớp trong âm đạo mở ra hoàn toàn, lớp cơ ở giữa rất căng để cho thai nhi dễ ra khỏi tử cung, thông qua âm đạo. Nhưng trên thực tế, khi đầu thai chuẩn bị ra ngoài, nếu không có sự giúp đỡ của bác sĩ trợ sản bảo vệ tầng sinh môn thì thai phụ rất dễ bị rách tầng sinh môn khi sinh.
1. Vì sao phải cắt tầng sinh môn?
Về thẩm mỹ: Trong quá trình rặn đẻ, nếu tầng sinh môn không đủ giãn để bé chui ra thì sẽ bị rách. Vết rách sẽ ngoằn ngoèo và rất xấu so với vết cắt can thiệp là 1 đường thẳng. Vết rách dù được khâu kỹ vẫn có thể để lại sẹo xấu, ảnh hưởng tới vấn đề thẩm mỹ và lần sinh sau có thể bị rách nứt ngay vết sẹo cũ.
Về sức khỏe: Vết rách có thể ảnh hưởng tới nút thớ trung tâm đáy chậu, làm tầng sinh môn bị nhão về sau. Khi đó, tầng sinh môn mất khả năng co hồi lại như bình thường, dẫn đến nguy cơ sa tử cung, âm đạo, trực tràng, bàng quang.
Thời điểm cắt là lúc sản phụ đang có cơn gò tử cung, tức là đang đau rặn, nên cái đau do vết cắt sẽ bị lấp đi trong cái đau của cơn gò. Thực chất, cắt tầng sinh môn là để bảo vệ cho sản phụ chứ không phải làm cho nữ hộ sinh hoặc bác sĩ đỡ đẻ dễ hơn như vài sản phụ lầm tưởng.
2. Những trường hợp nào cần cắt tầng sinh môn?
- Tính đàn hồi của tầng sinh môn kém, miệng âm đạo nhỏ hẹp hoặc tầng sinh môn bị sưng phù… có thể khiến cho thai nhi sinh ra khó khăn, nguy cơ bị rách tầng sinh môn nghiêm trọng.
- Thai nhi khá lớn, vị trí đầu thai không chuẩn, đầu thai nhi bị kẹp ở tầng sinh môn.
- Những sản phụ trên 35 tuổi, thường mắc phải những bệnh nguy hiểm cao trong thời kì mang thai như tim, hội chứng cao huyết áp khi mang thai… Để giảm bớt sự tiêu hao thể lực của sản phụ, rút ngắn quá trình sinh sản, giảm bớt những nguy hiểm của việc sinh đẻ đối với người mẹ và trẻ, khi đầu của thai nhi hạ đến tầng sinh môn nên tiến hành mổ cắt tầng sinh môn.
- Miệng tử cung đã mở hết, đầu thai khá thấp, nhưng thai nhi có hiện tượng thiếu oxy, nhịp tim của thai nhi không đều, có những biến đổi khác thường, nước ối có tình trạng vẩn đục hoặc có phân của thai nhi.
Cắt tầng sinh môn không phải là triệt để, nhưng tốt hơn là để bị rách tầng sinh môn
Phẫu thuật cắt tầng sinh môn là một vết thương thực thụ, dễ khâu và có thể liền sẹo trong vòng 5 – 7 ngày. Trong khi đó, nếu bạn để tầng sinh môn bị rách, các vết rách sẽ theo hình răng cưa và có thể sẽ rách rất rộng, chạm đến cơ thắt của hậu môn.
3. Cắt tầng sinh môn như thế nào?
Khi cái đầu của bé lấp ló ở âm đạo và âm đạo căng giãn tới mức tối đa, bạn sẽ được gây tê tại chỗ ở vùng sàn khung chậu. Khi cơn co thắt lên tới đỉnh cao, một đường cắt nhỏ sẽ được rạch từ đáy âm đạo và thường hơi chếch sang một bên. Có những trường hợp không đủ thời gian để chích thuốc tê, nhưng bạn cũng không cảm thấy đau do các mô căng đã bị tê tự nhiên.
Sau đó, sẽ mất một ít thời gian để bạn được khâu lại các lớp da và cơ bắp (hoặc âm hộ nếu bị rách). Lúc này, có thể bạn sẽ cần thuốc tê nếu thấy đau. Thông thường, lớp niêm mạc và cơ được khâu bằng chỉ tự tiêu sau 3 tuần, còn lớp da được khâu bằng chỉ nilon (cắt chỉ sau 5 – 7 ngày). Việc tháo chỉ sẽ không gây đau cho bạn.
4. Chú ý giữ vệ sinh sau khi cắt tấng sinh môn
Tầng sinh môn phía trước gần âm đạo và phía sau gần hậu môn nên có rất nhiều vi khuẩn. Trong quá trình sinh, nếu màng thai vỡ sớm, quá trình sinh kéo dài và tầng sinh môn bị viêm, phù… sẽ làm cho việc lành miệng vết mổ ở tầng sinh môn chậm chạp.
Do đó, sau khi mổ cắt tầng sinh môn, phải duy trì vệ sinh tại chỗ, mỗi lần sau khi đi vệ sinh xong nên dùng nước rửa ngay để tránh nhiễm trùng vết thương. Bạn có thể tự rửa bằng nước đun sôi với xà phòng thơm hoặc xà phòng trung tính rồi lau khô hằng ngày. Bạn cũng có thể dùng máy sấy tóc để làm khô nhanh vết khâu. Cần lưu ý là bạn nên mặc đồ lót thoáng.
5. Những tác hại có thật của việc cắt tầng sinh môn
- Cắt tầng sinh môn gây mất máu tương đương, thậm chí nhiều hơn so với một ca mổ chỉ định.
- Vết cắt tầng sinh môn đau lâu và khó lành hơn so với vết rách tự nhiên.
- Sự toàn vẹn của cơ đáy chậu bị ảnh hưởng do các cơ không được xếp lại đúng chỗ.
- Gây rò âm đạo – hậu môn, dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ.
- Sản phụ đã qua cắt tầng sinh môn sẽ bị đau đớn, khó khăn khi giao hợp cho tới ít nhất 3 tháng sau sinh.
- Đau đớn kéo dài còn ảnh hưởng đến tâm lý người mẹ và việc cho con bú sau này.
6. Tránh cắt tầng sinh môn như thế nào?
Một số bệnh viện thường dùng thủ thuật này, vì vậy bạn nên trao đổi với bác sĩ về nguyện vọng tránh cắt tầng sinh môn nếu có thể. Để tránh khỏi phải qua những thủ thuật này hoặc bị rách âm hộ, bạn hãy:
- Sinh con ở tư thế thẳng đứng, tránh nằm ngửa. Các tư thế như ngồi xổm, quỳ, hay nửa nằm nửa ngồi (có người đỡ) sẽ giúp cho bé xổ ra dễ dàng hơn.
- Học cách thư giãn các cơ sản khung chậu: Thả lỏng cơ đáy chậu, cách phình lớp mô âm đạo và đáy chậu, cách hít thở khi có các cơn gò tử cung. Những bài tập này rất đơn giản và bạn có thể tự tập tại nhà nhưng tốt nhất bạn nên đăng ký theo học một lớp tiền sản một vài tháng trước khi sinh.

Bài 9. Hiện tượng sót nhau thai sau sinh

Thông thường, sau khi 30 phút bé chào đời, nhau thai sẽ được đẩy hết ra ngoài và kết thúc quá trình sinh đẻ đấy vất vả của người mẹ. Tuy nhiên, ở một số trường hợp, một phần nhau thai không được đẩy hết ra ngoài mà vẫn còn sót lại trong tử cung, gây nên tình trạng nguy hiểm cho người mẹ. Hiện tượng này rất ít xảy ra.
1. Triệu chứng sót nhau thai
Chảy máu là dấu hiệu sớm nhất, đau âm ỉ hoặc từng cơn ở vùng bụng dưới; nhiễm khuẩn xuất hiện ngày thứ 3 và 4 sau khi sinh hoặc nạo thai.
2. Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất thường của nhau thai. Người ta cho rằng, nhau thai có thể dính vào một vết sẹo do lần mổ đẻ trước để lại, hoặc một vết rạch nào đó ở tử cung. Nhau thai cũng có thể dính vào chỗ đã từng bị nạo thai, hoặc chỗ bị viêm nhiễm ở tử cung.
3. Cách xử trí
Sau khi sinh, sản phụ thường bị chảy máu rất nhiều và có thể cần phải tiến hành phẫu thuật để làm ngưng chảy máu. Ngoài ra, còn phải nạo hút nhau ra ngoài, dùng kháng sinh kháng viêm và làm co tử cung. Trường hợp nặng (nhiễm khuẩn, chảy máu nặng) có thể phải mổ cắt tử cung.
Động tác kiểm soát buồng tử cung có thể được nhân viên y tế thực hiện bằng tay có đeo găng, bằng dụng cụ hay siêu âm…. Sau khi sinh, tử cung, cổ tử cung, âm đạo nở rất rộng (tới 10 cm) nên việc dùng tay kiểm soát buồng tử cung rất dễ dàng.
Phụ nữ có thai nên bổ sung sắt từ quý thứ 2 của thai kỳ, tức tháng thứ 4 trở đi sẽ hạn chế được hiện tượng sót nhau thai.

Bài 10. Cách thở và thư giãn khi chuyển dạ

Khi chuyển dạ việc thở và thư giãn có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng kết hợp giữa thở và thư giãn như thế nào cho đúng và phát huy được tác dụng cho giai đoạn chuyển dạ cũng là một việc rất đáng quan tâm.
Khi cơn co bóp đến gần
Khi bạn thấy những dự báo của các cơn co bóp đang chuẩn bị xảy ra bạn hãy hít thở thật sâu theo lối thở hoàn toàn. Sau đó thở nông với những lần hít vào thở ra nhanh, nhẹ và nhịp nhàng. Bạn cần thở nhẹ trong khi co bóp để tránh cho cơ hoành không tựa vào tử cung ngăn cản tử cung co bóp mạnh. Bởi vì cơ hoành là cơ nằm giữa lồng ngực và bụng. khi thở nó co lại và hạ xuống. Do đó, thở càng sâu, cơ hoành càng hạ xuống. Khi thở nông và nhẹ, cơ hoành chỉ động đậy sơ sơ.
Đôi khi trong lúc chuyển dạ, trong cánh tay và trong cẳng chân xảy ra những hiện tượng kiến bò có kèm theo những cơn co cơ và cảm giác khó chịu toàn thân. Tất cả tình trạng này sẽ biến mất nhanh khi tiêm canxi vào tĩnh mạch.
Trong suốt thời gian chuyển dạ, nhất là cuối giai đoạn giãn nở, nếu đầu đứa trẻ đã tiến vào, có thể bạn cảm thấy nhu cầu “rặn” giữa những cơn co bóp.Vào giai đoạn này bằng cách rặn, bạn sẽ không giúp cho việc chuyển dạ, bạn chỉ làm cho nó gây đau đớn hơn mà thôi. Hơn nữa điều đó không có ích lợi gì chỉ làm phí thời gian và công sức của bạn. Rặn khi cổ tử cung chưa được giãn nở đầy đủ sẽ cản trở việc giãn nở và kéo dài thời gian sinh đẻ. Ngoài ra những cố gắng rặn quá sớm ngày có nguy cơ làm cho bạn mệt mỏi và mất sức vào lúc bạn cần tham gia tích cực vào việc sinh đẻ và phung phí toàn bộ cơ năng của bạn. Bác sỹ hộ sinh sẽ thông báo cho bạn khi nào bạn có thể rặn được.
Khi hết cơn co bóp
Khi bạn cảm thấy cơn co bóp chấm dứt, bạn hãy hít thở hoàn toàn trở lại, thật sâu, thật chậm, nhưng trong một tiếng thở dài, sâu.
Sau đó bạn thở lại bình thường, thư giãn càng nhiều càng tốt, điều đó sẽ giúp bạn làm chủ hoàn toàn cơ co bóp tiếp theo. Và nếu mỗi cơn co bóp bạn lại bắt đầu lại chu kỳ: thở sâu, thở nông, thở hoàn toàn.
Thư giãn tâm trí
Dù ở thời điểm này, bạn rất đau nhưng tập kiên nhẫn thư giãn tâm trí. Cũng như khi ngồi thiền, bạn cố gắng để cho tâm trí mình thật sự trống rỗng, lắng dịu và đừng nghĩ ngợi bất cứ điều gì. Hãy thở chậm và đều, động tác thở ra nhẹ như đang thở dài, không nên thở quá mạnh. Nếu không thể tập được theo cách này, bạn có thể tập trung vào những gì bạn thường cảm thấy thú vị trong cuộc sống và cố gắng đừng đuổi theo bất kỳ ý nghĩ nào đó bất chợt nảy ra.

Đẻ lần đầu mình phải chuẩn bị như thế nào

Khi cơn co thắt tử cung bắt đầu, nếu bạn vẫn còn ở nhà thì nên tranh thủ ăn chút gì để giữ gìn thể lực, nhưng nên tránh những thực phẩm nhiều mỡ và khó tiêu. 

Dưới đây là một số mẹo nhỏ giúp bạn vượt cạn một cách dễ dàng từ những người giàu kinh nghiệm:
Quà vặt làm giảm nguy cơ sinh thiếu tháng
Khi những ngày ốm nghén đi qua, nếu có thể ngoài 3 bữa chính bình thường, bạn nên ăn thêm 2 bữa phụ.
Các bác sĩ khẳng định, nếu bà bầu không ăn liên tục trong 13 giờ(bao gồm cả thời gian ngủ) thì khả năng sinh sớm sẽ tăng 30%. Đó là do bụng trống rỗng cộng thêm cảm giác đói sẽ tạo nên áp lực đối với cơ thể và nếu cảm giác này lặp lại nhiều lần sẽ dẫn tới phản ứng co cơ thể, dễ dẫn tới sinh non.
Thường xuyên tư vấn với bác sĩ
Giữ mối quan hệ tốt với bác sĩ khoa sản của bạn và cứ lo lắng hay nghi ngờ gì bạn hãy bày tỏ ngay với họ. Bác sĩ sẽ lắng nghe và giải thích cho bạn dù là những điều nhỏ nhặt nhất.
Uống nhiều nước
Mỗi ngày bạn nên uống 8-12 cốc nước. Uống đủ nước sẽ tránh được hiện tượng táo bón trong thời kỳ mang thai, giảm khả năng sinh thiếu tháng và cũng giúp tích trữ nước cho ngày vượt cạn, đồng thời giúp cơ thể của bạn sản sinh đủ sữa cho em bé.
Tìm hiểu về chuyện làm cha mẹ
Tranh thủ lúc bé chưa chào đời, vợ chồng bạn hãy tìm hiểu về cuộc sống của trẻ sơ sinh, cách chăm sóc bé và giữ gìn tổ ấm của mình khi xuất hiện thành viên tí hon. Bạn cũng nên học hỏi từ những người đã có kinh nghiệm, đọc sách báo về những điều đó, nhất là về cuộc sống của bé trong 2-3 tháng đầu đời.
Nếu bạn đợi đến khi bé chào đời mới tìm hiểu thì đã muộn vì khi ấy bạn cực kỳ bận rộn. Đừng quên tìm và nhờ trước một người họ hàng đáng tin cậy đến giúp bạn trong thời gian ấy.
Luôn “sẵn sàng” trước ngày dự định sinh một tháng
Sau khi tròn 36 tuần tuổi, bé đã sẵn sàng chào đời bất cứ lúc nào có thể. Cho nên bạn cần phải hoàn thành mọi việc chuẩn bị trước ngày dự sinh 1 tháng, kể cả túi đồ sẽ mang vào viện khi trở dạ, ghi lại rõ ràng số điện thoại của vài hãng xe taxi…
Chọn người thích hợp để cùng bạn vào phòng sinh
Theo một kết quả điều tra của Mỹ mới đây thì việc sản phụ được chọn một người vào phòng sinh với mình làm giảm một nửa số ca phẫu thuật, giảm 1/3 lượng thuốc giảm đau và cũng bớt đi 1/4 thời gian sinh nở.
Phân tán sự tập trung
Trung bình một ca sinh nở cần 12-14 giờ đồng hồ. Khi tử cung co thắt, bạn cần cố giữ bình tĩnh. Nếu bạn căng thẳng ngay cơn co thắt đầu tiên, đếm số lần co thắt và thở bằng miệng mỗi lần thấy đau thì bạn sẽ mệt rất nhanh và cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Nên điều cần làm lúc bấy giờ là thả lỏng. Đi bộ, đi mua sắm, tưới cây, cắm hoa…, sẽ giúp bạn tạm quên đi những căng thẳng này.
Mát xa nhẹ nhàng
Trong quá trình trở dạ, nếu có người mát xa nhẹ nhàng cho bạn thì rất tốt, nhất là những chỗ bạn cảm thấy khó chịu. Cách này giúp giảm đau và giải tỏa lo lắng. Hãy nói cho người đó biết bạn muốn được mát xa theo kiểu nào và lực mạnh đến đâu.
Thông thường sau giai đoạn đầu của quá trình trở dạ, mát xa phần vai và gáy sẽ khiến sản phụ thấy thoải mái. Tiếp theo khi những cơn co thắt tử cung ngày một dày hơn thì mát xa vùng lưng eo sẽ có hiệu quả. Đương nhiên sẽ có lúc bạn không muốn ai đụng vào người mình hết.
Chọn tư thế sinh nở
Mặc dù hầu hết các bệnh viện đều yêu cầu sản phụ sinh trong tư thế nằm nhưng như thế không phải là tốt nhất. Các bác sĩ sản khoa ngày càng ưa chuộng tư thế sinh đứng hoặc quỳ, phần trên của cơ thể thẳng đứng sẽ tạo ra trọng lực rất tốt giúp bé chào đời dễ dàng. Cho nên nếu được, bạn hãy thảo luận với bác sĩ của mình xem tư thế sinh nở cho bạn thế nào là phù hợp nhất.
Hít thở nhẹ nhàng
Hít thở một cách có quy luật không chỉ giúp bạn tập trung vào những cơn co thắt dầy nhất mà những lần hít thở sâu giữa 2 cơn đau sẽ khiến bạn thư giãn hơn.
Vận động một chút
Điều này không chỉ giúp bạn giải tỏa phần nào những khó chịu mà còn làm cho việc sinh nở thuận lợi hơn. Sau khi được bác sĩ cho phép, bạn có thể đi vòng quanh sân bệnh viện một chút, nhẹ nhàng vung tay vung chân, thậm chí từ từ đứng lên ngồi xuống.
Phát huy tối đa trí tưởng tượng
Điều này giúp các sản phụ có thể đưa mình vào trạng thái thư giãn nhất, còn gọi là “ru ngủ chính mình”. Ở nhiều nhà hộ sinh ở các nước phát triển, người ta để sản phụ nghe nhạc và xem video với màn hình rộng với các hình ảnh và âm thanh về đại dương, về rừng hoa bát ngát, về những em bé đẹp như thiên thần. Điều đó khiến quá trình sinh nở trở nên dễ dàng hơn.
Bạn có thể tưởng tượng về những gì êm ái nhất, tưởng tượng mình đang trở về dòng sông quê hương, đang bồng đứa con bé bỏng xinh đẹp trên tay…
Lắng nghe “tiếng nói” của cơ thể
Sẽ không có phương pháp nào phù hợp với tất cả các sản phụ. Bạn hãy lắng nghe cơ thể mình để tìm ra cách tốt nhất có thể đem lại cảm giác thư thái (tất nhiên là phải được sự đồng ý của bác sĩ trực tiếp). Chẳng hạn, có người cảm thấy thoải mái khi nằm trên nền đất lạnh, có chị em lại thấy tất cả các phương pháp hít thở đều không có tác dụng mà chỉ dễ chịu khi ôm được cái gối to đùng mềm mại trong tay… Vậy thì bạn hãy thử mọi cách xem sao. Trên đời có bao nhiêu đứa trẻ khác nhau thì cũng có bấy nhiêu hành trình vượt cạn khác nhau.

Wednesday, July 13, 2011

Đĩa hướng dẫn tập thể dục trong thời kỳ mang thai và sau sinh

Trong thời kỳ mang thai và sau sinh, thể dục có quan trọng không?

Đây là vấn đề mà rất nhiều phụ nữ khi bước vào giai đoạn mang thai thắc mắc. Nhiều người nghĩ rằng, khi mang thai nên tránh vận động, càng vận động ít càng tốt. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn đã chứng minh điều ngược lại. Phụ nữ mang thai và sau sinh cần tiếp tục duy trì thói quen tập thể dục, tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ thể dục như thế nào và tần suất bao nhiêu là đủ?
Trước nhu cầu của nhiều phụ nữ mang thai, Parentslink Việt Nam đã bỏ ra hàng năm trời nghiên cứu dưới sự cộng tác của các chuyên gia về vận động, chuyên gia sản, chúng tôi đã tập hợp lại và trực tiếp có hướng dẫn bằng hình ảnh qua đĩa "Hướng dẫn thể dục cho phụ nữ mang thai và sau sinh". Chỉ cần dành 30 phút đến 40 phút trên một ngày vào bất cứ thời gian nào rảnh rỗi (các bạn nên tập vào sáng sớm hoặc tối trước khi đi ngủ), trên nền nhạc nhẹ nhàng, các bạn tập theo hướng dẫn của đía để vận động tay, chân, lưng, bụng, toàn thân và cả các động tác thư giãn. Những bài tập này có ý nghĩa trong việc rèn luyện sự dẻo dai, chống lại những vấn đề trong thời kỳ mang thai như mỏi lưng, chuột rút... Parentslink Việt Nam sẽ chính thức cung cấp đĩa này vào ngày 30/5/2011. Để phục vụ tốt hơn cho những bài tập, chúng tôi cũng cung cấp các sản phẩm đi kèm như sau:
Thảm yoga: 210.000/ 1 chiếc;
Bóng tập thể dục: 295.000/ 1 quả.
Chúng tôi sẽ tiến hành gửi cho các bạn sản phẩm sau khi các bạn chuyển khoản cho chúng tôi theo số tài khoản như sau:
Tài khoản Vietcombank: 06 110 0153 1715 tại Vietcombank Ba Đình, chủ tài khoản: Vũ Tuấn Anh
Mọi thông tin xin liên lạc theo số điện thoại: 0928.394 838 (gặp Mr Anh).

Bài tập vận động dành cho bà bầu

Trừ các chống chỉ định như dọa sẩy thai, ra máu, sảy thai liên tiếp... liệu pháp thể dục khi mang thai có thể cải thiện sức khoẻ của sản phụ, làm giảm cảm giác nặng ở bụng, mỏi ở hai chân. Để quá trình sinh đẻ diễn ra suôn sẻ, thai phụ nên luyện các bài tập thể dục sau:

Bài 1. Vận động chi trên
Người đứng thẳng, hai chân dạng bằng vai, hai tay đưa ngang ra trước, lòng bàn tay hướng lên trời, gấp khuỷu, bàn tay đặt lên trước vai, rồi duỗi thẳng. Lặp lại động tác này 6 - 8 lần.

Bài 2. Vận động chi dưới
Thông qua các vận động nhẹ nhàng, mềm dẻo của các vị trí ở chi dưới (bàn chân, cổ chân, gối, háng) làm thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch ở chân, tăng cường thể lực, phòng trừ thủy thũng ở chi dưới.

Động tác như sau:
- Ngồi trên ghế, đầu ngẩng thẳng, hướng mắt ra trước làm cho 3 khớp háng, gối, cổ chân tạo thành các góc 90o, điều chỉnh nhịp thở. Móc căng các ngón chân bám đất, đợi sau khi hô hấp một chu kỳ (hít vào, thở ra) thì thả lỏng về vị trí ban đầu. Có thể làm lần lượt một chân hoặc đồng thời cả hai chân. Làm 6 - 8 lần.
- Để gan bàn chân phải đặt lên trên mu bàn chân trái, mũi bàn chân phải vận động từ từ lên xuống, xoay cổ chân phải ra ngoài, vào trong và xoay vòng tròn. Lặp lại động tác 6 - 8 lần rồi đổi chân.

Bài 3. Luyện phần đầu - não
Ngồi thẳng trên ghế, hai tay buông lỏng tự nhiên, đưa phần đầu hướng ra trước khi hít vào; khi thở ra đưa đầu về vị trí ban đầu. Lặp lại động tác 6 - 8 lần.

Bài 4. Ưỡn hông và đầu
Nằm ngửa trên giường phẳng, hai tay buông xuôi dọc thân mình, nâng hông đồng thời nhấc mông, hít thở và thu cơ thắt hậu môn, sau đó thả lỏng về vị trí ban đầu. Lặp lại động tác 6 - 8 lần.

Bài 5. Ôm gối nằm ngửa
Nằm nghiêng trên giường phẳng, hai tay buông thẳng theo thân, luân phiên cặp từng gối vào bụng, đồng thời hai tay vòng ôm chặt gối, hít thở đồng thời thu cơ thắt hậu môn. Lặp lại động tác 6 - 8 lần.

Bài 6. Ngồi xổm
Người đứng thẳng, hai tay buông thẳng dọc thân mình, sau đó gập gối, hạ thấp người, đồng thời hai tay đưa ra trước và sau. Lặp lại động tác 6 - 8 lần.
Lưu ý khi luyện tập
- Đến khám bác sĩ chuyên ngành sản khoa để loại trừ các chống chỉ định: tiền sử sảy thai liên tiếp, thai ra máu, động thai, đau bụng khi có thai...
- Nghiêm cấm vận động quá sức để sau mỗi buổi tập luyện không bị mệt mỏi.
- Trước khi luyện tập nên đại, tiểu tiện để cơ thể thật thoải mái.
- Nếu có cảm giác khó chịu trước và trong khi luyện tập, nên liên hệ nhờ bác sĩ khám xét, tư vấn.

Tập luyện khi mang thai và sau sinh nở

Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng, khi người phụ nữ tập luyện an toàn trong thời gian mang thai, thì sẽ sinh con khỏe mạnh và đúng lịch.
Trong giai đoạn mang thai, việc tập luyện phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa để tránh gây tổn hại đến sức khỏe của người mẹ và thai nhi
Các bài tập thể lực đặc biệt quan trọng để duy trì sức khỏe trong giai đoạn mang thai. Tập luyện thể dục thể thao (TDTT) giúp giảm đau lưng, phòng ngừa hiện tượng giãn tĩnh mạch chi dưới và tĩnh mạch thành bụng, giúp cho hoạt động của hệ tiêu hóa, đặc biệt là của ruột diễn ra bình thường.
Tập luyện TDTT thường xuyên trong giai đoạn mang thai có tác dụng làm tăng trương lực của các nhóm cơ, nhờ đó mà cơ thể người phụ nữ nhanh chóng hồi phục trở về trạng thái bình thường sau sinh nở.
Tuy nhiên, tập luyện trong giai đoạn này phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa để tránh gây tổn hại đến sức khỏe của người mẹ và thai nhi: tránh tập luyện căng thẳng, tránh thi đấu, tránh những bài tập có cường độ vận động lớn, những bài tập quá kéo dài.
Xây dựng chế độ tập luyện phải dựa vào tình trạng sức khỏe của người mẹ trước khi mang thai và trạng thái sức khỏe của họ tại thời điểm mang thai, các rối loạn phụ khoa, các biến chứng sản khoa của lần mang thai trước đó và hiện tại, những thay đổi về tình trạng thể lực liên quan đến sự mang thai.
Dưới đây là những nguyên tắc tập luyện đối với phụ nữ mang thai:
- Chủ yếu tập luyện rèn sức bền với các bài tập như đi bộ nhanh, đi bộ nhanh và chạy bước nhỏ luân phiên, chạy bước nhỏ, bơi, kết hợp tập các bài tập chuyên biệt để củng cố các nhóm cơ bụng, cơ chậu háng, cơ lưng và cơ chi dưới.
Tập luyện thường xuyên 3 buổi/tuần (cách ngày), nếu tập đi bộ nhanh thì có thể tập hằng ngày.
- Tập luyện với cường độ giới hạn để nhịp tim không vượt quá 130-140 nhịp/phút (tránh gây thiếu oxy cho thai nhi).
- Trước khi tập phải tập các động tác thể dục nhẹ nhàng để hâm nóng các cơ và khớp, trước khi kết thúc buổi tập cần phải giảm dần cường độ bài tập kết hợp các bài tập thả lỏng cơ, khớp.
- Ở giai đoạn 3-4 tháng đầu của quá trình mang thai, trong chương trình tập luyện cần loại bỏ các bài tập căng cơ bụng, cơ đáy chậu, các bài tập gây tăng áp suất khoang bụng (khi thực hiện phải rặn, nín thở) như nâng tạ, ném đẩy..., các bài tập có các động tác xoay người đột ngột, các bài nhảy, bật người. Vì ở giai đoạn này trứng đã được thụ tinh có thể chưa bám chắc chắn vào thành tử cung, tập luyện không đúng có thể gây nguy cơ sảy thai.
- Sau tháng thứ 4 của thời kỳ mang thai, trong chương trình tập luyện loại trừ các bài tập thực hiện ở tư thế nằm ngửa.
- Tránh các bài tập mà khi thực hiện đòi hỏi phải nhịn thở, các động tác nhảy, lắc, vặn người, chuyển động thay đổi tư thế đột ngột, đặc biệt là ở giai đoạn 3-4 tháng đầu của quá trình mang thai. Tập trên sàn gỗ hay trên sàn nhà có trải thảm để tạo điểm bám chắc cho chân và giảm lực tác động của sàn tập lên cơ thể nói chung và chân nói riêng.
- Cần tránh các động tác co hay gấp các khớp quá mức, vì khi mang thai hay sau sinh nở các tổ chức mô liên kết ở khớp thường yếu hơn bình thường.
- Không đột ngột đứng dậy khi kết thúc bài tập để tránh hiện tượng hạ huyết áp do tư thế - có thể gây ngất.
- Chế độ ăn phải bảo đảm cung cấp đủ các chất cho cơ thể, lượng calo bổ sung liên quan thai nhi và lượng calo để thực hiện bài tập.
- Giảm cường độ tập trong điều kiện thời tiết nóng bức, không tập khi bị sốt.
- Uống nước thỏa đáng trước và sau tập để phòng tránh hiện tượng mất nước của cơ thể, nếu cần thiết có thể tạm dừng để uống bổ sung.
- Những phụ nữ có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động phải bắt đầu tập với cường độ thấp, sau đó từ từ tăng dần.
- Cần giảm cường độ tập luyện ở tháng thứ 7-8 của quá trình mang thai. Trong giai đoạn này chỉ nên tập đi bộ nhẹ nhàng kết hợp tập các bài tập nhằm chuẩn bị các cơ bụng và cơ đáy chậu, chuẩn bị cho các động tác rặn đẻ.
- Nếu khi tập mà thấy xuất hiện bất kỳ triệu chứng không bình thường: đau, chảy máu, chóng mặt, khó thở, tức ngực, nhịp nhanh không đều, đau lưng, đau ở vùng xương mu, thì phải ngừng tập và đến thăm khám bác sĩ.
Trong một số trường hợp như: ngộ độc thai nghén, chửa đa thai, chảy máu, tiền sử hay bị sảy thai, đẻ non, thì chống chỉ định với tập luyện. Trong các trường hợp này chỉ tập cử động khớp, đi bộ nhẹ nhàng.
Tập luyện đem lại lợi ích to lớn cho sức khỏe người mẹ. Sau khi sinh đẻ, những phụ nữ tập luyện trong thời gian mang thai sẽ hồi phục cân nặng như trước khi mang thai nhanh hơn so với những phụ nữ không tập luyện. Khi mang thai, những phụ nữ tập luyện TDTT thường xuyên tăng cân ít hơn so với những phụ nữ không tập luyện.
Giai đoạn 4-6 tuần sau sinh nở, tập luyện các bài tập chuyên biệt để thúc đẩy sự co của tử cung, củng cố các cơ bụng và cơ đáy chậu, tập các bài tập rèn sức bền nâng cao trương lực các cơ của cơ thể. Ở giai đoạn này, các bài tập với cường độ vừa phải có tác dụng thúc đẩy sự hoạt động của tuyến sữa, còn các bài tập căng thẳng sẽ gây giảm hoạt động, thậm chí ngừng hoạt động tiết sữa.
Theo Sức khỏe và Đời sống

Những bệnh nguy hiểm khi mang thai

TS-BS Lê Thị Thu Hà - BV Từ Dũ TP.HCM khuyến cáo, để “mẹ tròn con vuông”, chị em không nên chủ quan bỏ qua một số xét nghiệm trước khi mang thai hoặc trong lúc mang thai. 

Trước lúc mang thai hoặc trong quá trình mang thai, nếu thai phụ mắc phải một số bệnh nhiễm trùng như: Herpes sinh dục, giang mai, Rubella, Toxoplasma gondii, Cytomegalovirus… sẽ có nguy cơ sinh con tử vong hoặc bị dị tật: mù lòa, điếc, tim mạch, chậm phát triển trí tuệ.

TS-BS Lê Thị Thu Hà - BV Từ Dũ TP.HCM khuyến cáo, để “mẹ tròn con vuông”, chị em không nên chủ quan bỏ qua một số xét nghiệm trước khi mang thai hoặc trong lúc mang thai.
Mẹ mang bệnh, con dị tật nặng
TS-BS Thu Hà cho biết, các bệnh nhiễm trùng nêu trên là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong sơ sinh và cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của trẻ, gọi tắt là nhóm bệnh Torch. Khi trẻ sơ sinh mắc bệnh thường có những biểu hiện tương tự nhau như: nổi ban và những dấu hiệu về thị giác, thính giác, chậm phát triển tâm thần vận động, vàng da, gan to, lách to….
Tại hội thảo “Tầm quan trọng sàng lọc Torch trong thai kỳ” diễn ra tại TP.HCM vừa qua, TS-BS Liliane Grangeot - Keros, khoa Y Trường ĐH Paris-Sud, Pháp, cho biết, ước tính số lượng người VN nhiễm Herpes sinh dục khoảng 20 triệu người. Nếu thai phụ nhiễm loại virus này, có thể gây tử vong cho thai nhi.

Còn bệnh Toxoplasma gondii (một loại đơn bào ký sinh ở mèo) cũng khiến cho gần 5.000 thai phụ VN bị nhiễm mỗi năm. Đây là loại ký sinh trùng phổ biến nhất, lây từ động vật sang người thông qua thực phẩm, nước uống bị nhiễm khuẩn. Ký sinh này có thể tàn phá nghiêm trọng bào thai: 5-10% sẩy thai, 8-10% trẻ sơ sinh bị tổn thương mắt, có thể kèm theo tổn thương não rất nghiêm trọng, 10-13% trẻ sơ sinh bị tổn thương thị giác.
Những bệnh nguy hiểm khi mang thai, Y tế - thiết bị, mang thai, ba bau, viem nhiem, benh giang mai, benh rubella, benh soi
Với bệnh Rubella còn gọi là sởi Đức, nguy hiểm nhất là mắc Rubella trong ba tháng đầu thai kỳ sẽ khiến 90% trẻ có thể bị mù lòa, điếc, bệnh tim mạch, chậm phát triển trí tuệ, sẩy thai cao. Tại BV Từ Dũ, trong năm 2010 có đến 258 thai phụ nhiễm Rubella nguyên phát, trong đó chấm dứt thai kỳ 162 trường hợp.

Với bệnh giang mai, trong số những bà mẹ mắc bệnh giai đoạn sớm của thai kỳ, nếu không điều trị, 40% trường hợp bị sẩy thai. Còn nếu mắc Cytomegalovirus (một loại virus phổ biến trên toàn cầu, lây chủ yếu qua đường tình dục), sẽ khiến cho 10% trẻ sơ sinh bị biến chứng về sau, trong đó có 80-90% trẻ bị dị tật nặng như: mất thính giác, khiếm thị, chậm phát triển trí tuệ.
Chỉ 50% thai phụ có triệu chứng khi mắc bệnh
Các bác sĩ cho rằng, mặc dù các chứng bệnh này làm tăng nguy cơ tử vong và dị tật ở trẻ sơ sinh, thế nhưng, chỉ 50% thai phụ có biểu hiện mang bệnh. Do đó, trước khi quyết định mang thai, chị em nên xét nghiệm Torch và tiếp tục xét nghiệm trong ba tháng đầu thai kỳ để phát hiện các chứng bệnh nhiễm trùng Torch. Nếu có mắc bệnh cũng giúp điều trị kịp thời, giảm rủi ro sẩy thai. Các xét nghiệm dùng sàng lọc và chẩn đoán Torch trước sinh gồm: xét nghiệm huyết thanh học, siêu âm, cấy virus máu mẹ, cấy virus dịch ối, IgM dịch ối, PCR dịch ối.
Với những trường hợp không mắc bệnh, chị em có thể chích vaccine ngừa bệnh, tuy nhiên hiện nay chỉ có vaccine ngừa Rubella. Với bệnh giang mai, Herpes sinh dục lây truyền chủ yếu qua đường tình dục, vì vậy phòng ngừa bằng lối sống lành mạnh, dùng bao cao su sẽ giúp ích phần nào trong việc phòng ngừa bệnh này.

Cytomegalovirus lây truyền chủ yếu qua dịch tiết cơ thể, do vậy phải giữ vệ sinh sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với đối tượng nguy cơ. Phòng ngừa nhiễm Toxoplasma gondii bằng cách không ăn thịt sống; không uống sữa chưa tiệt trùng; không ăn rau và trái cây chưa rửa kỹ; rửa tay trước khi ăn bằng nước xà phòng ấm, đặc biệt sau khi tiếp xúc với thịt sống; rửa dao bằng nước xà phòng sôi sau khi cắt thịt hoặc rau sống.

Bệnh tim khi mang thai

Biến chứng bệnh tim trong thời kỳ mang thai là một trong những biến chứng nghiêm trọng và thường gặp ở phụ nữ mang thai. Chính vì thế Parentslink Việt Nam xin trân trọng giới thiệu tới các bậc cha mẹ những thông tin về bệnh này trong giai đoạn mang thai.
Hoạt động của tim khi mang thai

Khi có thai, nhịp tim của người phụ nữ tăng dần từ tuần lễ thai nghén thứ 10. Vào cuối thai kỳ, nhịp tim có thể tăng hơn trước mỗi phút 10 nhịp, lượng máu tim phải bơm để nuôi cơ thể mẹ và thai nhi cũng tăng lên. Ở tuần thai nghén thứ 25 trở đi, lượng máu qua tim có thể tăng từ 30-50%, người ta ước tính mỗi ngày khối lượng “làm thêm” này của tim là từ 2.160-3.600 lít, tương đương với khoảng 2-4 tấn.
Quả tim phải làm việc nhiều hơn như vậy vì khi có thai ngoài việc nuôi dưỡng bản thân, cơ thể người mẹ còn phải cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng thai nhi. Với những phụ nữ khỏe mạnh thì thai sản là vấn đề hoàn toàn tự nhiên, những thay đổi trong quá trình mang thai là bình thường, nhưng với những người mắc bệnh tim và chức năng tim không tốt thì sự thay đổi trong thời gian này sẽ trở nên rất nguy hiểm có thể xảy ra hiện tượng kiệt tim hoặc loạn nhịp tim.


Ảnh hưởng của bệnh tim khi mang thai
Đối với thai phụ
Tai biến có thể xảy ra ngay từ những tuần thai đầu đối với những người mắc bệnh tim nặng, với những sản phụ mắc bệnh tim thì tai biến thường xuất hiện từ tháng thứ 3 của thai nghén trở đi, khi cơ thể người mẹ có những thay đổi rõ rệt ở hệ tuần hoàn. Càng về nửa sau của thai kỳ, những tai biến càng có nguy cơ nhiều hơn, nhất là vào lúc chuyển dạ, sinh, sổ nhau và những ngày đầu sau sinh. Những tai biến thường gặp là:
Suy tim cấp: Khi bị bệnh chức năng tim đã bị suy yếu, kèm theo khi có thai tim phải hoạt động nhiều hơn, đặc biệt là khi lấy sức rặn đẻ, hậu quả là làm cho cơ tim bị suy kiệt và yếu đi, nhịp tim yếu và chậm dần, thậm chí ngừng đập hoàn toàn, gọi là suy tim cấp.
Phù phổi cấp: Do cơ tim bị suy giảm sức co bóp nên không đẩy máu kịp thời, làm máu ứ đọng nhiều ở phổi, máu tràn vào phổi làm ngập các phế nang nên bệnh nhân không thở được, cơ thể thiếu ôxy và dẫn đến tử vong.
Loạn nhịp tim: Khi thai phát triển, tử cung to chèn ép cơ hoành và làm thay đổi trục của tim so với lúc bình thường, quả tim như bị nằm ngang. Nhưng khi thai nhi sổ ra ngoài, tử cung co nhỏ lại một cách nhanh chóng làm cho tim cũng đột ngột thay đổi từ vị trí nằm ngang trở về bình thường, giống như bị rơi xuống. Sự thay đổi đột ngột này góp phần làm rối loạn chức năng của tim, có thể dẫn đến đột qụy, hoặc làm rối loạn nhịp tim.
Nhiễm khuẩn: Biến chứng này thường xảy ra sau khi sinh, vi khuẩn thường lan truyền theo đường máu vào gây các tổn thương ở màng trong của tim gây ra tình trạng nhiễm khuẩn và viêm màng trong của tim, gọi là viêm nội tâm mạc. Nhiều bệnh nhân có bệnh tim tính mạng được bảo toàn trong suốt quá trình mang thai, sinh nở nhưng vẫn còn nguy hiểm sau khi sinh vì tình trạng nhiễm khuẩn này.
Tắc mạch do huyết khối: Sự hình thành các cục máu đông trong quá trình mang thai, nhất là sau khi sinh làm bít tắc dòng chảy của mạch máu, nguy hiểm nhất là làm tắc động mạch phổi, biểu hiện là bệnh nhân khó thở, ngực đau dữ dội, tím tái và tử vong nhanh chóng.
Đối với thai nhi
Khi đã mắc bệnh tim, người mẹ luôn thiếu ôxy và chất dinh dưỡng làm phôi thai kém phát triển trong tử cung. Trong 3 tháng đầu có thể làm sảy thai hoặc thai chết lưu. Tình trạng thiếu ôxy và chất dinh dưỡng kéo dài dẫn đến suy thai, thai sinh ra bị thiếu cân (dưới 2.500g) hoặc sinh non, những đứa trẻ này ốm yếu, không đủ sức thích nghi với môi trường bên ngoài cơ thể mẹ nên rất dễ bị nhiễm khuẩn.
Nếu trẻ sinh quá non tháng, phổi chưa phát triển hoàn thiện làm trẻ dễ mắc bệnh màng trong (các phế nang của phổi có một lớp màng trong suốt bao phủ) nên trẻ không thở được và dẫn đến tử vong.
Những lưu ý đối với bệnh tim khi mang thai
Bệnh tim có nhiều loại, thể nặng hay nhẹ đều ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ và thai nhi, đe dọa trực tiếp đến tính mạng như các bệnh hẹp, hở van hai lá, suy tim... Chính vì vậy những phụ nữ mắc bệnh tim cần có sự lựa chọn cẩn thận khi quyết định mang thai. Nếu đã có thai cần đi khám xem có thể chịu đựng được quá trình mang thai và sinh nở hay không để quyết định giữ thai hay bỏ thai.
Trong quá trình mang thai, phải được theo dõi sức khỏe chặt chẽ, có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi đặc biệt, tâm trạng luôn luôn thoải mái, nếu có những biến đổi khác thường phải đến ngay các cơ sở y tế để được xử trí kịp thời, tránh những tai biến đáng tiếc xảy ra.
Kiểm tra định kỳ: trước 6 tháng, cách 2 tuần kiểm tra một lần, sau 6 tháng mỗi tuần kiểm tra một lần. Bên cạnh đó khi có triệu chứng suy kiệt tim như phù thũng, tim đập nhanh, thở dốc, tức ngực, phải đi khám ngay.
Khi đến kỳ sinh nở: Phụ nữ mang thai mắc bệnh tim muộn nhất phải nằm viện chờ sinh trước ngày sinh dự tính là 2 tuần, để được nghỉ ngơi đầy đủ và xử lý kịp thời, giữ cho chức năng của tim luôn ở trạng thái tốt nhất.
Khi chuẩn bị sinh: Do thai nhi trong khoang xương chậu đè lên trực tràng và âm đạo, sản phụ có cảm giác muốn đi đại tiện, bạn cần cố gắng tác dụng lực hướng xuống để giảm gánh nặng của tim
Sau khi sinh: Sau khi sinh bạn cần đặt túi cát (hoặc vật tương) lên vùng rốn khoảng 2 tiếng, để tránh làm áp lực trong khoang bụng đột ngột giảm xuống, lượng máu chảy máu về tim giảm đột ngột, dẫn đến suy kiệt tim. Trong 24 tiếng sau khi sinh, phải nằm im, tránh vận động. Trong 2 tuần sau khi sinh nếu vẫn có nguy cơ suy tim, cần tiếp tục nằm nghỉ.

Monday, July 11, 2011

Sự thay đổi thị lực ở phụ nữ mang thai

Khi mang thai, do những thay đổi về hormone và huyết động nên tại mắt có những thay đổi mang tính sinh lý, thoáng qua và nó sẽ biến mất khi quá trình thai nghén kết thúc. Tuy nhiên cũng có những bệnh lý thực sự như bệnh võng mạc thai nghén mà bạn không thể chủ quan. Thai nghén có thể làm tăng nặng cũng như giảm nhẹ một số bệnh lý mắt vốn có.

Thay đổi mắt không mang tính bệnh lý
Các hormone sinh dục làm tăng giữ nước tại các tổ chức nhiều sợi collagen, tổ chức cơ. Biến đổi mô học này hoàn toàn không gây ra bệnh lý cho mắt. Giác mạc có rất nhiều sợi collagen nên khi mang thai, độ cong của nó có thể thay đổi, gây ra cận hoặc loạn thị từ tuần thứ 30 của thai kỳ trở đi. Trên thực tế, có nhiều sản phụ đến khám mắt vì những bệnh cần đeo kính mà trước đó họ chưa hề bị. Cảm giác của lòng đen (giác mạc) cũng giảm nhẹ. Người ta khuyên các sản phụ nên tháo kính tiếp xúc khi mang thai, bởi sẽ rất khó chịu nếu đeo: do giác mạc phù, độ cong giác mạc thay đổi, thiếu nước mắt… Rối loạn điều tiết, thiểu năng qui tụ sẽ gây những khó chịu nhất định cho sản phụ, một số trường hợp phải điều trị bằng tập mắt. Nhãn áp tưởng sẽ cao khi thai nghén, may thay trên thực tế thì nhãn áp có xu hướng hạ trong suốt quá trình mang thai. Phù mi, sụp mi do phù gian bào gặp khoảng 12% trong số các sản phụ. Một số ca nặng phải phẫu thuật, nếu sau sinh sụp mi vẫn tồn tại dai dẳng.
Một số bệnh lý hay gặp trong quá trình mang thai
Bệnh lý võng mạc
Xuất huyết võng mạc có thể gặp, nếu sản phụ gắng sức, cúi đầu thái quá, ho mạnh, táo bón. Xuất huyết vùng võng mạc trung tâm có thể gây giảm thị lực nhiều. Đa phần các dạng xuất huyết sẽ tự tiêu và không để lại di chứng gì.
Khi chuyển dạ, do gắng sức thái quá có thể xảy ra một vài tai biến về đáy mắt: xuất huyết vùng hoàng điểm, xuất huyết dưới - trong - trước võng mạc gây giảm thị lực mạnh, đa phần sẽ hồi phục sau vài tuần.
Một biến cố nữa về võng mạc là bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. Hình ảnh lâm sàng là bong thanh dịch đơn thuần, có thể kèm theo xuất tiết trắng. Khi mắc bệnh này, bà bầu nên hạn chế dùng thuốc, kể cả thuốc nhỏ mắt. Rất may là bệnh này thường tự khỏi sau vài tuần. Nếu sản phụ có u cục trên cơ thể, trên mắt thì khi mang thai u thường có xu hướng phát triển nhanh. Vì vậy, khi đi khám, chị em nên khám cả chuyên khoa sản và chuyên khoa ung bướu.
Tăng áp lực nội sọ lành tính là một khái niệm mới, có thể gặp trên phụ nữ có thai. Nó liên quan chặt chẽ với một số bệnh lý thần kinh như: viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu, hội chứng giao thoa thị giác, liệt vận nhãn.
Mắt bị khô
Nhiều người mẹ có kinh nghiệm chia sẻ rằng, mắt họ trở nên khô hơn trong suốt thời gian mang bầu. Đây chỉ là tình trạng tạm thời, bởi vì sau khi sinh, mắt của nhóm người mẹ này không còn bị khô nữa.
Dấu hiệu bị khô mắt bao gồm:
- Bạn cảm thấy có những đốm sáng, nhức trong mắt.
- Bạn cảm thấy giống như là có bụi trong mắt.
- Mắt bạn bị sưng, đỏ.
- Mắt bạn bị chảy nước, chảy mủ.
- Mắt bạn trở nên cực kỳ nhạy cảm, đặc biệt là với khói thuốc lá…
Để tránh tình trạng khô mắt, bạn nên chọn một loại thuốc nhỏ mắt an toàn cho phụ nữ mang thai và cho con bú để vệ sinh mắt hàng ngày. Tốt nhất, bạn nên trao đổi với bác sĩ về liều lượng và cách sử dụng thuốc nhỏ mắt.
Một số trường hợp, chứng khô mắt còn đi kèm với dấu hiệu mắt bị sưng đỏ. Nếu không điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn tới các bệnh về mắt trầm trọng hơn.
Mờ mắt
Hiện tượng trữ nước (phù) khi mang thai có thể ảnh hưởng đến thị giác của bạn. Khi ấy, giác mạc và thủy tinh thể trở nên dày hơn, gây cản trở tuần hoàn ở vùng mắt (đặc biệt là nhãn cầu). Nó khiến cho thị lực của bạn giảm sút (mờ mắt).
Điều trị: Có thể bạn sẽ được bác sĩ chỉ định việc đeo kính để hỗ trợ thị giác trong thời gian mang thai. Sau khi sinh, nếu mắt bạn trở lại bình thường thì bạn không cần phải tiếp tục đeo kính nữa. Phần lớn phụ nữ bị mờ mắt khi mang thai, mắt của họ sẽtrở lại bình thường khoảng 6 tuần sau sinh.
Mí mắt bị sưng
Sưng mí mắt cũng là một trong những rắc rối về mắt, do thay đổi hormone khi bạn mang thai. Hiện tượng này có thể gây cản trở tầm nhìn của bạn, khiến bạn nhìn kém hơn.
Giống như dấu hiệu sưng phù ngón chân cái, nguyên nhân khác khiến tình trạng mí mắt của bạn bị sưng nhiều hơn là do chế độ ăn nhiều muối hoặc caffein, ít nước lọc. Vì vậy, bạn nên cân bằng thực đơn hàng ngày bằng rau xanh và nước lọc nếu bạn xuất hiện dấu hiệu bị sưng mí mắt.
Nếu bạn có tiền sử với bệnh Glôcôm (bệnh tăng nhãn áp), huyết áp cao hoặc tiểu đường, bạn nên thông báo tình trạng bệnh của bản thân với bác sĩ. Bác sĩ sẽ chú trọng đến việc kiểm tra và phòng ngừa các chứng bệnh về mắt cho bạn trong thời gian thai nghén.
Nếu muốn điều trị chứng bệnh Glôcôm trong giai đoạn bầu bí (hoặc ngay cả khoảng thời gian chuẩn bị mang thai), bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ thật cẩn thận. Một số đơn thuốc dùng để trị chứng Glôcôm có thể an toàn với bà bầu; tuy nhiên, một số loại thuốc khác lại có khả năng gây hại cho sự phát triển của thai.
Chú ý đến những biến chứng tại mắt
Tăng huyết áp gây lo ngại không chỉ cho bác sĩ tim mạch mà cả bác sĩ mắt. Trong quá trình mang thai, huyết áp rất khó kiểm soát dẫn đến nhiều biến chứng cho mắt. Bệnh mắt do nhiễm độc thai nghén, do tăng huyết áp ác tính là điều nguy hiểm nhất. Các biểu hiện trên đáy mắt rất rầm rộ: xuất huyết võng mạc, xuất tiết dạng lipid, bong võng mạc thanh dịch. Mắt giảm thị lực mạnh hoặc mù vỏ não tương ứng với dấu hiệu toàn thân nặng: phù, cao huyết áp, tiền sản giật hoặc sản giật. Đa phần mắt sẽ phục hồi hoàn toàn nếu điều trị nội khoa đáp ứng, đôi khi phải bằng đình chỉ thai nghén. Một tỷ lệ giảm thị lực bất khả hồi nếu có tắc mạch trung tâm võng mạc, thiếu máu thị thần kinh, nhồi máu não.
Một số bệnh vốn có sẽ thay đổi khi mang thai
Bệnh mắt do Basedow có xu hướng tăng nặng khi mang thai. Bệnh võng mạc, đái tháo đường cũng vậy. Viêm hắc võng mạc do toxoplasma đang ở đạng bất hoạt có thể chuyển thành thể hoạt tính khi mang thai. Nếu bạn có những bệnh trên thì đừng quên đi khám mắt theo định kỳ khi mang thai. Bên cạnh đó, cũng có may mắn ngoại lệ: nếu bạn mang thai khi đang mắc glô-côm, viêm màng bồ đào thì các bệnh trên có xu hướng nhẹ đi trong thai kỳ.
Tuy nhiên những biến cố trên rất ít xảy ra. Lời khuyên quan trọng nhất của chúng tôi là :nếu bạn bị cao huyết áp, bị đái tháo đường thì ngoài việc khám thai sản ra, bạn nên đi khám mắt định kỳ theo hẹn của bác sĩ.

Bệnh viêm phổi khi mang thai

Viêm phổi là tình trạng viêm nhiễm ở phổi, gây ra các triệu chứng như ho, sốt cao, khó thở… Thông thường, viêm phổi có thể điều trị tại nhà và thường khỏi sau 2-3 tuần. Nhưng với phụ nữ đang mang thai thì tình trạng viêm phổi có thể diễn tiến bất thường, không chỉ làm suy giảm sức khỏe của người mẹ mà còn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi làm cho thai nhi thiếu oxy hoặc dẫn đến sảy thai, đẻ non. Vậy bạn cần đối phó với tình trạng này như thế nào?


Nguyên nhân gây bệnh

Vi trùng gồm vi khuẩn hay virus gây ra chứng viêm phổi.
Bệnh thường khởi phát khi bạn hít phải vi trùng và chúng lọt vào phổi.
Bệnh có thể khởi phát sau một trận cảm lạnh hay cảm cúm. Nguyên nhân là hệ hô hấp bị yếu đi, mất khả năng chiến đấu với kẻ lạ xâm nhập và vì thế dễ bị viêm phổi.
Mắc các bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư hay tiểu đường cũng dễ bị viêm phổi.
Triệu chứng
Các biểu hiện viêm phổi do vi khuẩn thường diễn tiến rất nhanh. Chúng bao gồm:
- Ho: thường ho ra đờm (đờm có thể màu vàng hay xanh hoặc có thể lẫn máu).
- Sốt.
- Thở nhanh và hơi thở nông.
- Rùng mình (có thể chỉ bị 1 lần hoặc lặp lại nhiều lần liên tục).
- Đau ngực và thường cảm thấy tình trạng tệ đi khi ho hay hít vào.
- Nhịp tim nhanh.
- Cảm thấy rất mệt hoặc yếu.
- Buồn nôn hay nôn vọt.
- Tiêu chảy.
Chẩn đoán bệnh
Bác sĩ sẽ hỏi các triệu chứng và làm các xét nghiệm như chụp X-quang và xét nghiệm máu.
Sẽ cần làm nhiều xét nghiệm hơn nếu biểu hiện bệnh nặng hơn.
Điều trị như thế nào?
Phụ nữ mang thai khi nghi ngờ mắc bệnh viêm phổi phải đến bệnh viện khám và điều trị ngay, nếu bạn mới mang thai thì bạn cần phải nói với bác sỹ điều trị cho bạn về tình trạng đang mang thai của bạn để bác sỹ điều trị cho bạn bằng các loại thuốc thay thế thuốc kháng sinh để đảm bảo không ảnh hưởng đến thai nhi.
Nghỉ ngơi, ngủ và uống nhiều nước sẽ giúp giảm tình trạng bệnh. Không hút thuốc. Nếu ho làm bạn thức giấc lúc nửa đêm thì cần trao đổi với bác sĩ để được kê thuốc giảm ho. Điều trị tại nhà như nghỉ ngơi và chăm sóc họng thường là cách tốt nhất.
Phòng ngừa viêm phổi như thế nào?
Điều quan trọng của bệnh này là việc dự phòng, sau khi mang thai sức đề kháng của cơ thể yếu nên bạn phải chú ý luôn giữ ấm cơ thể, phòng lạnh. Rửa tay thường xuyên sẽ giúp ngăn ngừa các loại virus, vi khuẩn gây viêm phổi. Hạn chế tiếp xúc với những người bị cúm, cảm lạnh, sởi hay thủy đậu. Đồng thời chú ý thường xuyên rèn luyện thân thể để tăng sức đề kháng cho cơ thể.